Lược truyện các bậc tổ sư

Sách lĩnh Nam chính quái và sách Thiền uyển tập anh đều có chép sự tích của một bậc danh tăng, đó là Dương Không Lộ tu hành tại chùa Nghiêm Quang, tọa lạc tại huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình ngày nay. Trong dân gian, chùa Nghiêm Quang hay chùa Thần Quang được gọi là chùa Keo. Dương Không Lộ vừa là một danh tăng lại cũng vừa là bậc được dân địa phương tôn làm tổ sư của nghề đúc đồng. Ông người làng Hải Thanh nay thuộc Nam Hà, sinh vào năm nào chưa rõ, chỉ biết rằng ông sống vào khoảng thời Vua Lý Nhân Tông năm 1072 đến năm 1127, mất vào ngày mồng ba tháng sau năm Ất Hợi năm 1119. Sách Đại Việt sử lý toàn thư chép chuyện danh tăng Nguyễn Minh Không, tên thật là Nguyễn Chí Thành, người làng Đàm Xá nay thuộc Ninh Bình, sinh năm 1065, mất năm 1141. Nguyễn Minh Không nổi tiếng nhờ công chữa lành bạo bệnh cho vua Lý Thần Tông năm 1128 đến năm 1138, cho nên được tôn là Lý Quốc Sư. Trong dân gian, Lý Quốc Sư cũng được coi là một trong những bậc tổ sư nghề đúc đồng. Dương Không Lộ và Nguyễn Minh Không đều được tôn là tổ sư của nghề đúc đồng có lẽ vì cả hai bậc danh tăng này đều có công đúc chuông đồng và để lại cho đời những kinh nghiệm quý giá về nghệ thuật đúc chuông. Tuy nhiên, nếu xét ở góc độ tu hành, tên tuổi của Dương Không Lộ và Nguyễn Minh Không được đời đời biết đến, thì ở góc độ cống hiến cho nghề luyện và đúc đồng, cả hai đều chỉ mới là tổ sư của từng khu vực nhất định mà thôi. Bậc tổ sư của nghề đúc đồng được dân gian biết đến nhiều nhất vẫn là Sư Khổng Lồ một nhà sư chỉ có trong kho tàng truyện cổ tích nước ta. Khổng Lồ vừa có dáng dấp của một nhà sư lại cũng vừa có hành trạng của một đạo sĩ. Chuyện Sư Khổng Lồ tóm lược như sau: Sư Khổng Lồ là một bậc chân tu, có nhiều phép thần thông kỳ lạ. Nhà sư cũng là người có tài trị bệnh cứu đời. Một hôm, Sư Khổng Lồ quyết định đi khắp bốn phương, quyên giáo đô đồng trong thiên hạ về để đúc chuông. Thế rồi nhà sư đến Trung Quốc. Bây giờ, Thái Tử của hoàng Đế Trung Quốc chẳng may lâm bệnh nặng, bao bậc danh y được gọi tới để chữa trị mà rốt cuộc vẫn phải bó tay. Nghe tiếng Sư Khổng Lồ, Hoàng Đế liền sai người đến gọi. Lạ thay, Sư Không Lồ chỉ mới cho uống vài thang thuốc, bệnh của Thái Tử đã khỏi hẳn. Hoàng Đế Trung Quốc ra lệnh lấy thật nhiều vàng bạc ban thưởng cho Sư Khổng Lồ, nhưng nhà sư một mực từ chối, chỉ nói: Nếu bệ hạ có lòng, xin hãy cho kẻ tu hành này một túi đầy đồng. Sư Khổng Lồ chìa ra một cái túi chỉ dài đúng ba gang. Hoàng Đế Trung Quốc cười và nói rằng: Chỉ một túi ấy không thôi ư? Ta cho phép người vào tất cả mười kho đồng của ta, muốn lấy bao nhiêu cứ lấy. Sư Khổng Lồ vào, trút hết cả mười kho đồng lớn mà cái túi ba gang vẫn chưa đầy. Xong, nhà sư vác túi lên vai, ung dung về nước. Mỗi lần qua sông, không một chiếc thuyền nào có thể chịu nổi sức nặng của cái túi ba gang, bởi vậy, Sư Khổng Lồ phải ngửa cái nón tu lờ nón của các nhà sư mà mình đang đội để làm thuyền vượt sông. Về nước, nhà sư đã đem số đồng ấy đúc thành Tứ đại khí tức là chuông lớn, tượng lớn, tháp lớn và vạc lớn. Chuông lớn vừa đúc xong, chỉ mới thỉnh nhẹ một tiếng mà âm thanh đã vang sang đến tận Trung Quốc. Tiếng ngân kỳ lạ của chuông lớn khiến cho những con trâu bằng vàng, để trong kho báu của Hoàng Đế Trung Quốc tưởng là tiếng trâu mẹ gọi, liền chạy lồng sang nước ta. Chúng chạy quanh mãi ở Thăng Long mà tìm vẫn không thấy mẹ, và dấu vết những bước chân của đàn trâu vàng đi tìm mẹ ấy chính là Hồ Tây ở Hà Nội ngày nay. Tác giả của Tứ đại khí – Sư Khổng Lồ được tôn là tổ sư của nghề đúc đồng ở nước ta. Nhân vật của truyền thuyết dân gian này đã được lịch sử hóa. Thi thoảng đó đây cũng có những tấm văn bia để ở một số chùa chiền đã gộp sự tích của Dương Không Lộ, Nguyễn Minh Không và Sư Khổng Lồ vào làm một. Thực ra tứ đại khí ở nước ta được chế tạo ở những niên đại rất khác nhau. Đại để, xin tóm lược như sau: Đại khí thứ nhất là chuông lớn, tức là chuông Quy Điền. Chuông này được đúc vào năm 1101, đời vua Lý Nhân Tông. Chuông đúc xong, đánh không kêu, vì thế, bị bỏ ở một thửa ruộng nằm cạnh chùa Một Cột – Hà Nội. Thửa ruộng này rất lắm rùa, cho nên mới có tên chữ là Quy Điền. Chuông bỏ ở ruộng Quy Điền nên mới có tên là chuông Quy Điền.
Đại khí thứ hai là tượng lớn. Tượng này để ở chùa Quỳnh Lâm thuộc Quảng Ninh. Theo văn bia của chính chùa này thì tượng được đúc vào cuối thời Lý, thì tượng cao đến sáu trượng khoảng 20 mét. Nếu văn bia chép đúng thì rõ ràng, tượng chùa Quỳnh Lâm thuộc vào hàng lớn nhất của thế giới về tượng đồng.
Đại khí thứ ba là tháp lớn đó là tháp Báo Thiên, xây vào năm 1057, đời vua Lý Thánh Tông. Tháp này cao 20 trượng tức khoảng 70 mét và những tầng trên của tháp đều được đúc bằng đồng. Tháp Báo Thiên có tên gọi đầy đủ là Đại Thắng Tư Thiên bảo Tháp, nằm trong khuôn viên của chùa Sùng Khánh thuộc Thăng Long.
Đại khí thứ tư là vạc lớn: Vạc này để ở chùa Phổ Minh nay thuộc Nam Hà nên vẫn thường được gọi là vạc Phổ Minh, được đúc vào thời Trần Nhân Tông. Truyền thuyết kể rằng, miệng vạc rộng đến nỗi hai người có thể chạy mà đuổi nhau ở trên đó. Trong suốt hai mươi năm đầu thế kỷ 15 từ năm 1407 đến năm 1427, nước ta bị quân Minh đô hộ. Một trong những tội ác không thể nào dung tha của giặc lúc này là đã đem tứ đại khí nấu chảy để lấy đông đúc vũ khí đi đàn áp nhân dân ta.
Nguyễn Khắc Thuần- Trí Thức Trẻ – số 20 – tháng 2 – 1997.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *