Luận bàn về thiên văn học trong nghệ thuật chiêm tinh – Phần 5

Bởi thế cho nên cái nóng của mùa hè và cái lạnh của mùa đông thường lấn át sang các mùa khác (ta thường có cảm giác xuân, thu qua nhanh là vì thế). Thực tế như vậy nên khi tính nhuận phải chú trọng đến vấn đề lệch trọng tâm của mùa hè và mùa đông hơn nên khi lấy tháng sáu là tháng nhuận để đẩy ngày Hạ Chí vào trung tâm của mùa hè là hữu lý, còn nếu tính nhuận cho mùa thu thì tháng đầu mùa cũng chỉ là hữu danh vô thực vì vẫn còn cái nóng của mùa hè (ấy là cái thực tế mà có lúc từ cảm nhận ta đã thốt thành lời “thu đến rồi mà sao vẫn còn nóng như mùa hè vậy”). Phân tích hai trường hợp tính nhuận trên đây cũng nhằm đi đến một kết luận quan trọng là không phải cứ tháng âm lịch nào không có ngày khí đều là tháng nhuận. Chỉ có điều là kí tinh lịch, nhuận thường hay là những tháng đó mà thôi. Bởi vậy khi tác giả sách đưa ra nguyên tắc “tháng chỉ có ngày tết không có ngày khí, thì dùng tháng đó là tháng nhuận” là không đúng hoàn toàn. Ở hai thí dụ trên lịch pháp đã lấy nguyên tắc này làm chuẩn mực nên tháng nhuận không đặt vào đúng chỗ cần thiết khiến cho bức tranh thời tiết bị biến dạng đi nhiều. Điều dễ thấy là nếu tháng nhuận chỉ đơn giản vậy thôi thì lịch còn có gì phải tính nữa, việc biên soạn lịch trở nên quá dễ dàng ai cũng có thể làm được và những điều tranh cãi xưa nay về vấn đề tính nhuận cũng sẽ là vô lý. Hy vọng rằng những vấn đề nêu trên được các nhà làm lịch quan tâm khi biên soạn lịch cho thế kỷ 21 cần chú ý hơn đến tính hợp lý của mùa, tiết trong tính thuận.
Ý nghĩa của ngày tết, ngày khi trong âm dương lịch
Theo lịch nhà hạ Trung Hoa phân định một năm có 12 ngày tiết và 12 ngày khí và tháng nào cũng có một tiết và một khí. Tiết do ảnh hưởng của Mặt trăng sinh ra, tiết dụng nên tháng (nguyệt kiến), cách chừng 15 ngày sau khi thì tới khí do ảnh hưởng của mặt trời sinh ra. Vì vậy mới gọi là âm dương lịch và được dùng để nghiên cứu các qui luật về âm dương ngũ hành chi phối 4 mùa trong một năm âm lịch. Mặt trời – Thái Dương sinh “khí” và Mặt trăng (Thái âm) sinh “tiết” tạo ra quy luật âm dương biến dịch. Khi nghiên cứu các qui luật vận động của thiên nhiên ta không thể tách riêng âm lịch với dương lịch vì nếu chỉ theo âm lịch là đã bỏ qua nhân tố khí của mặt trời, còn theo dương lịch thì đã không kể đến tiết của Mặt trăng. Vậy âm dương lịch là lịch chung toàn cầu nên không thể phân biệt ra thành lịch của ta, của tây như cách hiểu của thạc sĩ Trịnh Tiến Điều, có chăng là sự phân biệt đánh giá xem lịch nào tính đúng tính sai mà thôi. Chẳng hạn như ngày Hạ Chí thì mọi vùng trên bắc bán cầu đều phải tính là ngày 21 đến ngày 22 tháng 6 dương lịch, không lẽ ở Việt Nam Hạ Chí không phải là ngày đó? Đúng là nó có những cái khác mà ta cần phải phân biệt rõ: do khác nhau về kinh độ nên giờ tới mỗi vùng của ngày Hạ Chí có sớm muộn khác nhau và do sự khác nhau về vĩ độ nên tính chất của ngày Hạ Chí cũng khác về tầm lượng ảnh hưởng và đó chính là cái chủ yếu để nghiên cứu và tính toán lịch cho từng vùng theo vĩ độ, cụ thể là các vùng thuộc đới nào (nhiệt, hàn hay ôn). Vậy nên các yếu tố thiên văn được nghiên cứu cần phải gắn với tọa độ vùng mới có ý nghĩa, nó cũng không khác gì mấy việc tính toán ảnh hưởng của một con bão theo tọa độ từng vùng mà nó đi qua. Sẽ là sai lầm lớn khi cho rằng lịch Việt Nam khác với lịch Trung – Tây là theo múi giờ. Cho dù có hiểu như vậy, cũng đã thấy sự mâu thuẫn là múi giờ của Việt Nam cùng nằm trên kinh tuyến đi qua cả vùng trung tâm của đại lục Trung Quốc, vậy có gì là khác nhau đâu? Cái giống nhau thì bảo là cái khác nhau, còn cái khác nhau thì bảo là cái khác nhau có ý nghĩa quan trọng bậc nhất trong lĩnh vực nghiên cứu thiên văn để tính lịch là vĩ độ thì lại bỏ qua, vậy không biết lịch tính toán như thế nào.
Hà Vi Tử – Trí Thức Trẻ – số 11 – tháng 15 – 1996.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *