Luận bàn về thiên văn học trong nghệ thuật chiêm tinh – Phần 4

Nhiều người hẳn còn nhớ vào dịp tết năm Ất Sửu – 1985 dư luận xôn xao bàn tán về chuyện hoa xuân không nở và cho rằng lịch pháp của ta tính sai. Dĩ nhiên đó là sự nhận xét theo cảm tính mà không có lý lẽ chứng minh. Để sáng tỏ vấn đề, trước hết ta cần biết nguyên tắc tính tháng nhuận của các nhà làm lịch: cứ tháng âm lịch nào (tức là chu kỳ trăng nào) mà không có ngày khí thì được xem là tháng nhuận. Đối với các nhà làm lịch thì nguyên tắc này quá ư đơn giản, vậy mà sao còn có chuyện phải tranh cãi về đúng với sai? Mắc mớ chính là ở chỗ trong tính toán không thể áp dụng nguyên tắc một cách máy móc vì nó có thể làm sai lạc đi ý nghĩa của mùa, tiết (dĩ nhiên là khi đã cho rằng “tháng nhuận không phản ánh thời tiết” thì sẽ dễ mắc sai lầm nhất). Ta hãy phân tích vào vấn đề cụ thể nêu trên thì sẽ rõ: Theo lịch pháp của ta thì năm Ất Sửu nhuận được tính cho tháng hai vì tháng này không chứa ngày “khí” nào cả nên đúng với nguyên tắc trên. Thế nhưng lịch Trung Quốc lại lấy tháng 10 (tức tháng một của lịch ta) năm giáp Tí – 1984 là tháng nhuận, và nếu tính xét cũng không sai nguyên tắc! Không sai, vì theo lịch pháp của ta thì tháng một năm giáp Tí có chứa ngày khí. Đồng chí tất sẽ không thể là tháng nhuận được, nếu cứ căn theo nguyên tắc thì điều đó có lý, nhưng nếu phân tích kỹ ta sẽ thấy rằng khí Đông Chí sinh ra quá muộn màng ( vào đúng ngày tuần hối hay còn gọi là ngày Nguyệt tận) nên chỉ tí giờ sau nó đã chuyển vị sang ngày Sóc của tháng sau rồi nên đúng là “có cũng như không” vậy. Đông Chí là ngày trọng tâm của mùa đông năm giáp Tí, còn xuân phân là trọng tâm của mùa xuân năm Ất Sửu, và cả hai mùa đều cùng có tháng nhuận để đẩy ngày khí trọng vào trung tâm của mùa. Quả là một tình thế túng xử đối với các nhà làm lịch, vì nếu tính nhuận cho mùa đông năm giáp Tí thì mùa xuân năm Ất Sửu sẽ bị lệch trọng tâm, và ngược lại. Đúng là nhà làm lịch có quyền nhất bên trọng nhất bên khinh mà không có gì sai với nguyên tắc tính toán thuần túy cả. Đó chính là nguyên nhân dẫn đến tranh cãi và gây ra sự hoang mang nghi ngờ của người dùng lịch như thường đã xảy ra. Bởi thế, nếu ta tìm sự sai đúng về phương diện tính toán thì bên nào cũng có lý đúng không thể bắt bẻ được, cái chính ở đây là ta phân tích về phương diện đón xuân, ăn tết để xem trọng bên nào và khinh bền nào thì hợp lý hơn: Nếu tính nhuận cho mùa xuân năm Ất Sửu thì ngày mồng một tết sẽ sát với ngày đại hàn là ngày khí của tháng chạp thuộc đông năm giáp tí khí âm vẫn còn lấn át khí dương nên hoa đào chưa thể nở quẻ dịch biểu thị cho tháng chạp là quẻ với 4 hào âm và 2 hào dương mà hoa đào chỉ nở trong điều kiện âm dương quân bình với khí dương đã ở thế “thượng phong” đi lên, nghĩa là phải đợi đến tiết lập xuân của tháng giếng biểu thị bằng quẻ Thái với ba hào dương và ba hào âm hoa đào mới nở. Đón tết thì thế, còn đón xuân thì sao? Phải sau ngày Nguyên đán nửa tháng mới tới tiết lập xuân, nghĩa là mùa xuân mới bắt đầu từ đó. Vậy hóa ra là đón tết thì còn ở mùa đông năm giáp Tí và đón xuân thì xuân vẫn xa vời. Trái lại, nếu tính nhuận cho mùa đông năm giáp Tí và đón xuân thì xuân vẫn xa vời. Trái lại, nếu tính nhuận cho mùa đông năm giáp tí thì việc ăn tết vui xuân đều đã vào mùa, hoa đào đã nở và chúa xuân cũng đã có mặt rồi. Vậy nên, nếu lấy ý nghĩa của tế, xuân làm trọng thì cần phải gài tháng nhuận vào mùa đông năm trước. (Năm ấy một số gia đình vẫn ăn tết theo lịch Trung Quốc là hữu lý). Năm Đinh Mão – 1987 cũng có một tình huống tương tự. Lịch ta tính nhuận tháng bảy, còn lịch Trung Quốc tháng sáu, bảy, còn lịch Trung Quốc tháng sáu, nghĩa là lịch ta cho mùa thu có nhuận, còn lịch Trung Quốc – mùa hè. Tính nhuận cho mùa hè là hợp lý vì trong 4 ngày khí trọng tâm của bốn mùa thì Hạ Chí và Đông Chí là hai đỉnh cực nóng và cực lạnh của mùa hè và mùa đông, còn xuân phân và thu phân là hai đỉnh bình quân âm dương của mùa xuân và mùa thu.
Hà Vi Tử – Trí Thức Trẻ – số 11 – tháng 15 – 1996.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *