Đất lành

Trong thế kỷ 20, nhất là sau khi Kháng chiến chống Pháp thắng lợi (1954) và chống Mỹ cứu nước giải phóng miền Nam thống nhất đất nước (1975) nhiều cựu chiến binh đã về Đa Sỹ lấy vợ sinh cơ lập nghiệp trở thành những gia đình đầu tiên của họ mới ở Đa Sỹ. Ví dụ gia đình ông Mai Công Lưu lấy bà Đỗ Thị Ý, gia đình ông Lưu Bá Đệ lấy bà Nguyễn Thị Liên, gia đình ông Trần Vãn Tiền lấy bà Lê Thị Lộc.v.v.. Các gia đình trên nay đã bước sang đời thứ ba, có gia đình bước sang đời thứ tư.

Với những dấu mổc kể trên chúng ta thấy quê huơng Đa Sỹ chính là nơi đất tốt, gần kinh kỳ, luôn có cái gì đó hấp dẫn làm cho đâm chồi nẩy lộc, khiến cho “chim đậu” ở “đất lành”, người ở nơi khác cứ đến, cử tụ lại, đã đến thì chẳng đi, ở lại rồi phát triển rồi thành đạt. Cho nên người xưa dù làm đôi câu đối khắc trên cột mục mã ở cửa Miếu thờ Thành Hoàng làng:

Nhân kiệt địa linh tú thuỳ kỳ sơn chung dục cựu

Xuân hi vật lạc tường phong thục khỉ phát sinh tân Nghĩa là:

Đất thiêng sinh ra người anh kiệt, nước trong, Sơn (hướng) đẹp được hun đúc nuôi dưỡng, tự cổ xưa;

 Xuân âm áp sinh cảnh vật vui tươi, khí lành, gió mát làm nảy lộc đâm chôi, những mầm mới.

Như vậy cư dân Đa Sỹ từ xưa tới nay luôn luôn có sự nhập cư, những người nhập cư đều ơn nhờ Bản Thổ Thành Hoàng mà đều ăn nên làm ra và thành đạt ở nhiều mức độ khác nhau. Tục lệ của làng xưa quy định ràng từ đời thứ ba trở đi, người nhập cư được đảm nhận các công việc của làng xóm như người bản địa nếu đạt được các tiêu chuẩn chung của làng. Như vậy nếu chỉ tính các dòng họ lâu đời ở Đa Sỹ như họ Đỗ, họ Nguyễn (không rõ Nguvễn nào vì hiện có 12 họ Nguyễn khác nhau), họ Hoàng Quy, Hoàng Chính, Hoàng Trung Phú… thì trong làng có 25 họ lâu đời. Trong đó có 21 họ có cụ Khởi Tổ khác nhau. Nếu kể cả một số gia đình cựu chiến binh về làm rể Đa Sỹ thì tổng cộng Đa Sỹ hiện có 32 họ khác nhau. Phần lớn các họ làm giỗ Tổ và thờ Tổ ở nhà trưởng. Cả làng chỉ có 10 họ có nhà thờ Tổ riêng biệt là họ Nguyễn (Trần Triều Thái uý), họ Hoàng Ba Chi, họ Trịnh (dòng Danh y Trịnh Đôn Phác), họ Lê (Triều Quan), họ Lê Triều Quan Nhị chi, họ Lê Triều Quan Lục chi, họ Lê Năm chi, họ Hoàng Triều, họ Hoàng (Trưởng họ là ông Thuật) và họ Đỗ (mới làm năm 2005).

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *