Category Archives: Sưu tầm

Các loài kỳ đà nước và cạn

KÌ ĐÀ NƯỚC

Loài bò sát, họ Kì đà, bộ Có vảy, hình dáng giống thằn lằn. Gặp ở Việt Nam, Xrilanca, Ân Độ, Nam Trung Quốc, Lào, Campuchia, Malaixia, Bắc Ôxtrâylia. Lưỡi dài và mảnh, đầu lưỡi xẻ đôi, thò ra thụt vào qua miệng. Lỗ mũi hình bầu dục hay gần tròn nằm ỏ vị trí gần mõm hơn mắt. Đầu và thân phủ vảy nhỏ xếp kề nhau, vảy bụng to hơn vảy lưng và xếp thành những hàng ngang. Đuôi dài, dẹp bên, sống đuôi rất rõ. Lưng có màu xám đen. Đuôi có những vòng vàng nhạt xen với những vòng đen. Ăn cá, thân mềm, cua, nhiều khi ăn cả sâu bọ, ếch nhái, bò sát, chim và chuột. Đẻ trứng trong hốc bên bờ sông hay dưới các hốc cây gần nưóc, phủ lên trên hốc một lớp cát mỏng. Sống ở các bò sông, bờ suối vùng trung du và vùng núi, ẩn trong khe đá hay các hang hốc dưới các gốc cây hoặc trong các bờ bụi. Bơi lặn giỏi, có tập tính dùng lưỡi để đánh hơi kiểu bắt mồi rình mồi và vồ mồi. Có giá trị thẩm mĩ. Da thuộc có giá trị thương mại cao. Thịt ngon. Mật kì đà dùng để chữa các bệnh kinh giật ở trẻ em.

Continue reading

Các loài cá ngựa và cá rầm xanh

CÁ NGỰA LỚN

Loài cá toàn thân được bọc bằng các đốt xương vòng, các gai trên đốt thân rất ngắn, đôi khi chỉ như những mấu nhỏ, họ Cá chìa vôi, bộ Cá chìa vôi. Gặp Vịnh Bắc Bộ, Ấn Độ Dương, Trung Quốc, Nhật Bản, Philippin, Xingapo, ôxtrâylia, Haoai. Đỉnh đầu có chùm gai thấp, đầu gai không sắc nhọn. Vây lưng có 16 – 17 tia vây, vây ngực có 13 – 16 tia vây. Vây hậu môn rất nhỏ. Không có vây bụng và vây đuôi. Mõm hình ống, miệng nhỏ ở mút mõm. Có giá trị dược liệu.

Continue reading

Sự tích Lâm Dương Quán – P2

Đạo giáo lấy học thuyết Âm dương Ngũ hành làm cơ sở, trời đất vạn vật đều do âm dương hợp lại mà thành. Đạo giáo là tôn giáo về sự sống, đòi hỏi con người nắm giữ cuộc sổng hiện thực, mong muốn sống mãi không già, đồng thời cũng hy vọng rất nhiều vào tương lai, về một thế giới thần tiên. Đó là một thế giới con người khoẻ mạnh, sống lâu và sung sướng. Trong sự phổ biến sâu rộng ở phép thuật thần tiên thì thuốc tiên và kim đan là hai thứ luôn được chú ý. Theo Y học hiện đại thì những quy tắc tu dưỡng trong cuộc sống thường ngày của Đạo giáo phần lớn rất phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý con người, rất có lợi cho sự khoẻ mạnh của thể xác và tinh thần, tất nhiên những quy tắc này khó tránh khỏi phải khoác lên mình cái vỏ tôn giáo và mang đậm màu sắc thần bí.

Continue reading

Sự tích Lâm Dương Quán – P1

Làng Đa Sỹ xưa đã được các Đạo sỹ – Thuật sỹ (những người theo Đạo giáo thời Nguyên Thuỷ Thiên Tôn là Thái Thượng Lão Quân) biết đển rất sớm. Có thể là từ thế kỷ 14- 15 hoặc sớm hơn nữa. Thể đất của Quán ở phía Bắc làng theo thuyết phong thuỷ được ghi nhận là “Linh Minh Đỗng Triệt, nghĩa là ánh sáng thiêng liêng chiếu rọi khắp vùng. Còn ở phía Nam là thế đất “Tam quang cập đệ, Tứ trụ thuỷ lưu”(,I) – Tột đinh của 3 nguồn sáng và dồi dào của 4

Continue reading

Sự tích làng Đa Sỹ

Đời Lê Hiển Tông niên hiệu Cảnh Hưng tại ngôi trị vì đất nước gần 50 năm (1740-1786) dài nhất trong các đời vua ở nước ta đã cho đặt tên các địa danh theo tiêu chí mới. Xét thấy Đan Sỹ là nơi có nhiều danh nhân lịch sử từng làm vẻ vang đất nước như Danh nhân – nhà Nho có đức nghiệp lớn Hoàng Trình Thanh (1410-1463) đồ thứ ba khoa thi Bác học Hoành từ (Tân Hợi 1431), đồ thứ nhất khoa chân Nho chính trực của triều Lê; có Trạng nguyên lưỡng quốc Hoàng Nghĩa Phú (Khoa Tân Mùi – 1511); có 9 vị Tiến sĩ xuất thân đời Lê; có 5 Nhân thần được thiên hạ thờ làm Thành Hoàng; có nhiều quan Thượng thư đầu triều tham tri chính phủ; có Lương y dược – Phù vận Đại vương Hoàng Đôn Hoà; có Lịch thế y Trịnh Đôn Phác di sứ nhà Thanh chữa khỏi bệnh cho vua Càn Long đem vinh quang về cho đất nước,… và nhiều quan chức trong triều đình làm rường cột của đất nước, làm lợi cho dân chúng. Vì thế đã cho đổi tên từ Đan Sỹ thành Đa Sỹ – Làng Đa Sỹ có nghĩa là quê hương của nhiều Tiến sĩ, của các Nho sỹ, của nhiều tri thức, nhiều quan chức, của những bậc hiền tài tuấn kiệt danh nhân, là làng văn vật, là đất khoa bảng.

Continue reading

Gia phả tộc họ (p2)

Gia phả họ Trịnh thì Cụ Tổ họ Trịnh từ Dương Châu (Thanh Hoá) ra định cư ở Huvền Chê vào khoảng thế kỷ 16. Tại đây các cụ đã tiếp thu và kế tục dược y đức và y thuật trong Hoạt nhân toát yếu của Đức Bản cảnh để lại, suốt từ đó cho đến những năm 60 của thế kỷ 20 trước. Dòng họ Trịnh nổi tiếng với Lịch thếy Trịnh Đôn Phác đã sang sứ nhà Thanh chữa khỏi bệnh cho vua Càn Long đem vinh quang về cho quê hương đất nước.
Gia phả họ Lê thì Cụ Tổ họ Lê (Triều quan) từ Thang Àp (Thanh Hoá) về Đan Sỹ vào đời Lê Vĩnh Tộ (1619- 1628) kết duyên cùng cụ Bà họ Hoàng, sinh cơ lập nghiệp phát triển thành một dòng họ lớn 6 chi như hiện nay. Dòng họ Lê (Triều quan) tự hào về sự hiển đạt với Đệ Tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân Lê Hoàng Vỹ khoa Quý Hợi (1743) và ở chế độ Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam có Thiếu tướng Lê Ngọc Thuỷ (thời chống Mỹ cứu nước) và Thiếu tướng Lê Văn Hợp (thời đổi mới).
Theo Gia phả họ Nguyễn Thế (cụ Nguyễn Thế Hướng năm nay 8 Ị tuổi cho biết) thì: Vào thời kỳ Vua Lê – Chúa Trịnh, Cụ Tổ nsười họ Nguyễn từ Thanh Hoá ra định cư ở làng Dộc Ốc làm nghề thuốc. Sau đó Cụ anh ở lại, Cụ em về Đa Sỹ. Cụ Nguyễn Trung Lương là cháu Cụ Tổ, đã làm thuốc chữa khỏi bệnh cho con Chúa Trịnh, được Chúa ban thưởng cùng 4 chữ “Đức Thế Y Nho”. Từ đó con cháu lấy họ là Nguyễn Thế.
Theo Hồi ky của cụ Nguyễn Bá Xuyến vào khoảng giữa thế kỷ 18 (1750-1755) Cụ Nguyễn Bá Duyên người làng Đại Hành, xã Hạ Thanh Oai, huyện Thanh Oai do gia biến đã dời lên ở làng Đa Sỹ lấy vợ là con gái họ Hoàng, là cụ Hoàng Thị Độ, rồi sinh ra cụ Nguyễn Bá Xuyến (1759-1829). Cụ Nguyễn Bá Xuyến đã theo Nguyễn Ánh lập được nhiều công về trí sĩ được gọi là Cụ Án. Từ thuở hàn vi Cụ đã theo vào họ mẹ là họ Hoàng Ba Chi ở giáp Hoàng Chính. Khi ra Bắc làm quan Cụ đã về Đa Sỹ lập nghiệp. Cụ tậu đất làm nhà, lập dinh và làm nhà thờ cha mẹ. Xóm cụ ở gọi là Xóm Dinh, nhưng nhân dân gọi chệnh là Xóm Danh. Con cháu chắt chút của Cụ nay là dòng họ Nguyễn Bá.

Gia phả tộc họ

Chúng tôi cũng đã nghiên cứu các văn bia đặt ở chùa Lâm Dương Quán, ở Miếu, ở một số nhà thờ, ở Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm, nghiên cứu nhiều gia phả và phả cùa các họ trong làng mà các cụ còn ghi lại tương đối rõ, thì thấy

Continue reading