Ái tình trong mộng, trong thực của lê thánh tông- phần 3

Phạm Minh Phi: là con gái quan Đô Đốc Khang Vũ Bá Phạm Văn Liên. Nàng được tuyển vào cung năm Quang Thuận 2 vào năm 1461, sinh ra công chúa Oanh Ngọc, công chúa Lan Minh, hoàng tử Tống Vương Tung, mất năm 50 tuổi.

Nguyễn Kính Phi: người xã Bất Căng, huyện Lôi Dương thuộc vùng đất tắm gội của nhà Lê là con gái quan Đô đốc của nhà lê, là con gái quan đô đốc thiêm sự, Đề đốc 4 vệ Thần vũ Nguyễn Đức Nghị. Nàng mồ côi cha từ nhỏ, làm con nuôi quan Thái bảo giản cung hầu Lê Hươu nên phải nhập tịch làng Lam Sơn, được tuyển vào cung năm Quang Thuận 1 vào năm 1460, sinh ra công chúa thứ ba và công chúa thứ 11, mất năm 41 tuổi. Trong lời văn dụ tế, triều đình ca ngợi nàng là người đức hạnh dung nghi, vẻ sao ngời sáng. Sử của Lê Qúy Đôn đã chứng thực điều này, khi đề cao nàng: “Tính khiêm tốn dịu dàng, vui buồn không lộ ra nét mặt, hầu hạ vua chu đáo lại ham đọc sách, thông hiểu đại nghĩa, ăn mặc tiết kiệm”.
Nguyễn Tài Nhân: người làng Thiên Mồ, huyện Từ Liêm, một trong Tứ quý danh hương, nổi tiếng. Nàng là hậu duệ của một dòng họ nhiều đời làm quan, cha làm quan Thái trung Đại phu, Thượng thư tư Khanh, Hộ bộ Tả nhị lang Nguyễn Đình Hy. Nàng được tuyển vào cung, phong làm Tài nhân sinh ra hoàng tử Phúc Vương Tranh thọ 35 tuổi.
Nguyễn Tư Dung họ Nguyễn tên mến cả… Câu đối của Tư Thành bỏ lửng, nhưng ý nghĩa quá rõ ràng. Cô gái nghe xong vẫn cúi đầu làm thinh. Cho tới lúc vo gạo xong, cắp rá lên, cô mới ngoái cổ đáp lại: “Cát lầm gió bụi, lo đời đâu đấy hãng lo cho”. Câu đối cũng, bỏ lửng rất tài tình ấy khiến Tư Thành mến phục và nhớ mãi không quên. Nhưng chỉ đến đêm nay chàng mới biết nàng ở chốn quyền môn lệnh tộc này. Nàng tên là Hằng, tên chữ là Huyên, cùng với bậc tiền bối là anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi chung một viễn tổ là Định quốc công Nguyễn Bặc đệ nhất công thần thời Đinh. Gặp gỡ chưa nhiều mà Tư Thành đã thấy lòng xao xuyến lạ lùng như đã bén duyên nhau từ thuowir nào. Chàng thấy như văng vẳng đâu đây lờ truyền tụng của dân gian về tiền duyên của hai người hợp với giấc mộng gặp tiên đồng ngọc nữ của mẹ mình:
“Gặp nhau từ thuở thiên đình
Lòng nào nỡ phụ tâm tình thế ru”
Và điều đó như có sự ứng hợp cũng đêm nay dưới ánh trăng huyền ảo, mẹ con chàng được nàng thổi cho nghe bài sáo theo điệu lên tiên và ngâm tặng hai bài thơ do chính mình sáng tác với điển tích tiên nữ biệt thềm đỏ cung trăng mà tấm lòng lúc nào cũng như hoa quỳ, hoa hoắc hướng về mặt trời;
Từ ngày tạ biệt Đan Trì
Tấc lòng quỳ hoắc luống bề ngóng trông
Vầng dương nay đúng ngọ hồng
Xin đem chút sáng sưởi nồng duyên xưa
Hoài công dưới nguyệt ôm cầm
Nước non ai thấu tri âm cho cùng?
Thề xưa nay mới trùng phùng
Tình ai há nỡ phụ lòng năm xưa
Tiếng sáo trầm bổng tuyệt hay như ru con người vào chốn Dao trì, Bồng lai, dáng vẻ thanh cao duyên dáng khác nào Ngọc nữ của nàng, âm điệu, nội dung sâu nặng tình người của hai bài thơ khiến không những Tư Thành mà cả bà Ngọc Dao cũng thực sự cảm động. Duyên may run rủi cho gặp tiên nữ lại tái diễn một lần nữa, thuở mới lên ngai vàng của vị hoàng đế trẻ. Có khác là lần này là tiên nữ thật sự theo truyền tụng dân gian: một ngày đẹp trời Lê Thánh Tông đi thăm trường Quốc tử giám.
Đinh Công Vĩ-Trí Thức Trẻ – số 37 – tháng 7 – 1998.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *