Giao lưu văn hóa và phát triển khoa học công nghệ – Phần 2

Với định hướng và giao lưu văn hóa, sự phát triển Khoa học và công nghệ sẽ mang những tính chất tích cực, có điều khiển từ quan điểm đến hành vi thực tế. Chẳng hạn yếu tố yêu nước trong nền văn hóa dân tộc Việt Nam vẫn được coi là một thành phần quan trọng như nay phải chuyển hướng vào ý chí làm việc cho dân giàu nước mạnh. Hằng số cổ truyền của con người Việt Nam trước đây có thể coi là Nông dân – Nông nghiệp – Dân gian, thì nay để phát triển, phải được thay đổi, tạo lập một nền văn hóa hướng các hằng số mới như Công nghiệp – đô thị – thông tin. Nền văn hóa hiện đại này sẽ là môi trường thuận lợi cho Khoa học và Công nghệ phục vụ phát triển kinh tế – xã hội theo hướng giàu có và công bằng, nhân ái. Định hướng và giao lưu văn hóa sẽ giúp các nước đi sau như Việt Nam, lựa chọn công nghệ phù hợp hơn. Chẳng hạn, do nhiều thế kỷ hoạt động công nghiệp hóa của các nước phương Tây liên quan đến nguồn lực của thuộc địa, nên đã tạo ra một đặc thù là sử dụng những công nghệ đòi hỏi nhiều tài nguyên, nhiều vốn dựa trên trình độ cao về khoa học, về tổ chức và ít nhân công. Nhưng công nghệ này đã thấm nhuần một bản đồ văn hóa của phương Tây mà khi tiếp nhận chúng, những nước đi sau phải cân nhắc, lựa chọn một cách thông minh, nghĩa là phải tạo lập được công cuộc phát triển nội sinh. Sự phát triển nội sinh bao hàm hai điều kiện cơ bản, đó là được nảy sinh từ bên trong và hướng vào con người, nó bao quát được các mặt kinh tế, xã hội công nghệ và bản thể văn hóa.
Mô hình văn hóa Việt Nam trong thời đại Khoa học và công nghệ
Với hàng nghìn năm sống trong nền văn minh nông nghiệp lúa nước, nền văn hóa Việt Nam thấm đậm những đặc thù như thích nghi hơn là cải biến ngoại cảnh, tình nghĩa nhiều hơn duy lý, kinh nghiệm trội hơn lý luận. Người nông dân trong lịch sử đã có ứng xử linh hoạt về ba mối quan hệ là Đất và nước, nhà và nước, làng với nước. Trong hơn nửa thế kỷ trở lại đây, nền văn hóa Việt Nam được bổ sung một số đặc tính tích cực như hệ thống tổ chức, phân phối và tiêu dùng, tăng trưởng giáo dục…. Nhìn chung trong nền văn hóa truyền thống của Việt Nam có một thiếu hụt lớn về Khoa học và Công nghệ. Trong suốt thời kỳ bao cấp của nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, vai trò Nhà nước đã xuất hiện quá sâu trong đời sống văn hóa dân tộc tạo nên một số nét khiên cưỡng, xơ cứng. Do xã hội kéo dài trong cảnh chiến tranh, nên có hiện tượng văn hóa pháp luật bị coi thường, văn hóa đạo đức có nguy cơ bị suy thoái và văn hóa nghệ thuật nghèo nàn. Ngày nay một cơ chế thị trường nếu không có định hướng văn hóa một cách mạnh mẽ sẽ dẫn đến những lẫn lộn về chuẩn cứ. Quan niệm về sang – hèn, giàu – nghèo, sướng – khổ hiện nay mang nhiều tính thực dụng, làm lu mờ các chuẩn cứ khác như thanh sạch – bẩn thỉu, thiện – ác, tốt – xấu… Trong tinh thần giao lưu và định hướng văn hóa cho phát triển Khoa học và công nghệ ở giai đoạn hiện nay, Việt Nam phải xây dựng một mô hình văn hóa phù hợp nhằm hỗ trợ đắc lực cho quá trình phát triển đất nước. Mô hình văn hóa này phải bao hàm các khía cạnh sau đây:
Văn hóa triết học tạo định hướng cho xã hội nhằm mục tiêu có tăng trưởng nhanh về kinh tế và có tiến bộ bền vững về xã hội, Văn hóa kinh tế – doanh nghiệp xây dựng phong cách làm ra nhiều của cải cho xã hội, Văn hóa Khoa học và công nghệ là yếu tố năng động, nguồn lực của đổi mới sản xuất và quản lý, nguồn lực của sáng tạo, Văn hóa giáo dục nhằm xây dựng con người, bảo đảm tiềm lực lâu dài cho phát triển, văn hóa văn học nghệ thuật là hoạt động đặc trưng và sâu đậm nhất làm cho con người thấy được ý nghĩa phong phú của cuộc sống. Văn hóa đời sống, nếp sống là sự thể hiện rõ nét nhất của văn hóa, góp phần tạo lập nhân cách, đổi mới truyền thống, văn hóa môi trường sinh thái giúp cho con người hòa nhập với thiên nhiên, thân thiện, quý trọng không gian, cỏ cây, sông ngòi, muôn thú. Tóm lại, trong giao lưu văn hóa cần hội nhập hoạt động khoa học và công nghệ của Việt Nam vào khu vực và thế giới nhằm thụ hưởng thành tựu và đẩy mạnh hợp tác về Khoa học và công nghệ. Một đội ngũ đông đảo các nhà quản lý, nghiên cứu khoa học và công nghệ giỏi về chuyên môn, được làm quen với môi trường quốc tế, tinh thông ngoại ngữ như tiếng Anh sẽ là một thành tố quan trọng, đảm bảo tính hiệu quả cao của hệ thống Khoa học và công nghệ phục vụ phát triển kinh tế – xã hội, góp phần thiết thực tạo năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam trên thị trường thế giới.
GS. Đặng Ngọc Dinh – Trí Thức Trẻ – số 8 – tháng 2 – 1996.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *