Monthly Archives: July 2016

Những bức tường… biết nói

Cho đến nay, ngạn ngữ mới nói đến tai vách, mạch rừng, giờ đây có thể khẳng định rằng vách, và thậm chí cả trần nhà cũng sẽ… nói được. Bởi một hãng điện tử anh vừa hoàn thành cấu trúc loa ở dạng tấm phẳng sản phẩm có thể thực hiện một lúc hai chức năng. Thật đáng ngạc nhiên khi chúng có thể là vật liệu dán tường hoặc lát trần, màn ảnh chiếu phim… và vai trò thứ hai, chính là hệ thống loa, hệ thống mới, giống như hãng sản xuất, mang tên NXT hy vọng rằng, sản phẩm đầu tiên đối tượng sự quan tâm lớn nhất của người tiêu dùng, sẽ là những trần nhà biết nói. Trái với cấu trúc truyền thống loa truyền thanh, khi sóng âm thanh hình nón làm chuyển động, đưa âm thanh đến người nghe theo hình ống với loa truyền thanh thế hệ mới, những rung động tức thì phát đi trên toàn bộ diện tích mặt phẳng. Ngoài ra, nó bền tới mức không hề bị hư hỏng, dẫu bạn quét màu sơn gì lên bề mặt. Cũng có thể phủ lên loa phẳng lớp nguyên liệu chống cháy hoặc chịu nước. Hãng NXT ở Hunlingdon khẳng định rằng, giải pháp của họ được đánh dấu bằng đặc tính chất lượng âm thanh hoàn hảo tới độ người nghe không hề cảm thấy khó chịu khi ở vị trí gần loa như trường hợp sử dụng thế hệ âm thanh kinh điển hoặc cảm giác hụt hẫng lúc xa dần loa. Điều này, có nghĩa là, không cần sự tăng thái quá công suất thiết bị audio, vẫn có thể đảm bảo khả năng khả năng nghe đủ âm thanh ở bối cảnh thí dụ như ở những phòng lớn, đông người. Theo thông tin của hãng, loa phẳng , loa phẳng có thể có diện tích từ 25 cm vuông tới 100 mét vuông. Như vậy, nó sẽ thay đổi một cách cơ bản phương thức trang âm tại các phòng hòa nhạc và các sân khấu, nơi vẫn được lắp đặt bằng đủ loại loa thùng. Đến nay, ngoài các hãng điện tử, trong số khách hàng muốn mua công nghệ loa phẳng, có hãng xe hơi Nokia đối tượng dự định áp dụng nó vào kế hoạch sản xuất hệ thống audio trang bị cho ô tô. Khi ấy, hệ thống loa sẽ được lấy, thí dụ hai má cửa sau xe. Sớm nhất, trong vòng ba tháng tới, NXT sẽ tung ra thị trường loại loa mảnh dán trần nhà với cái tên thương mại là Son Tile. Trái lại, sản phẩm đầu tiên dành cho thị trường người tiêu dùng sẽ là hệ thống loa phẳng cho TV chất lượng cao. NXT cũng quan tâm đặc biệt khả năng sử dụng giải pháp của mình cho các rạp chiếu bóng. Bởi ở đó có thể lắp đặt những màn ảnh biết nói. Như thế khi chiếu phim, cùng lúc trực tiếp từ màn ảnh thay vì từ những thùng loa đặt ở đâu đó, âm thanh sẽ đi thẳng tới khán giả. Hãng đang thử nghiệm nhiều chủng loại sản phẩm khác nhau khả dĩ có thể lắp đặt thế hệ loa phẳng, trong đó có vỏ hộp máy vi tính cá nhân. NXT bảo hộ giải pháp của mình bằng một số đăng ky bản quyền và khẳng định rằng, dưới phương diện chuyển tải âm thanh, thế hệ loa mới, dẫu chất lượng hơn hẳn, về cơ bản không khác mấy so với thế hệ loa truyền thống. Hơn thế, các chuyên gia của hãng cho rằng, phát kiến mới sẽ rất thích hợp cho giàn âm thanh hifi, bởi bất cần động tác phức tạp, vẫn có được hiệu quả âm thanh rộng lớn. (Theo PAP)
Ăn đúng mức giữ cho khỏi béo
Trước hết cơ thể nặng bao nhiêu kg thì gọi là béo. Bảng dưới đây cho biết số cân không nên vượt quá đối với từng chiều cao theo tổ chức y tế thế giới 1988 không phân biệt nam nữ. BMI (body mass index) chỉ sô khối cơ thể. Cách tính: cân nặng cơ thể tính bằng kg chia cho bình thường chiều cao tính bằng mét. Có thể dùng bảng này để ước lượng xem số calo ăn vào thừa hay thiếu. Nếu thấy vượt quá số cân cho phép, phải hạn chế bớt calo đi. Nên nhờ rằng những thức ăn làm béo tức là cho nhiều calo, không phải là thịt, cá mà là các chất mỡ, dầu, và đường, bột. Trong khi một lạng 100 gam thịt nạc hoặc cá nạc chỉ cho khoảng 80 đến 100 kgcalo, một lạng gạo cho 300 và một lạng ddowngf cho 400 kgcalo. Các loại dầu thực vật, mặc dù không có cholesterol, cũng không nên ăn nhiều vì đem lại rất nhiều calo và dễ làm tăng cân. Còn các loại quả cho rất ít calo trừ những quả quá ngọt như mít, xoài, chuối… và rau xanh thì hầu như không thêm calo nào, người béo có thể ăn thoải mái mà không lên cần. Các thuốc chữa béo đều có hại, không nên dùng. Theo Viện dinh dưỡng, một người lớn từ 18 tuổi đến 30 tuổi, lao động trung bình, cần khoảng 2.500 Kcal trong một ngày. Trong đó lipid nên cung cấp 20% nghĩa là 500 kcal, tương đương với 60 gam chất béo dầu, mỡ. Trong 60 gam này, nên tăng nhiều acid béo không bão hòa , và giảm bớt acid béo bão hòa. Cholesterol ăn càng ít càng tốt và không được quá 300 mg.
Thuốc hạ cholesterol
Nếu ăn uống hợp khoa học theo ba điểm trên rồi, cộng với hoạt động thể lực tốt mà sau ba tháng, cholesterol vẫn còn cao, mới phải dùng thuốc theo hướng dẫn của bác sĩ. Thầy thuốc có thể khuyên dùng một trong các thuốc như Resin, Acid nicotinci, Statin ức chế men khở HMG COA hoặc fitrat, probucol. Trường hợp sau mãn kinh, bác sĩ có thể dùng thêm nội tiết tố để hạ cholesterol. Mỗi thuốc đều có mặt lợi và mặt hại chỉ bác sĩ chỉ định đúng được. Cũng nên nhắc lại rằng, hạ cholesterol trong máu chỉ là một trong nhiều biện pháp phòng bệnh tim mạch. Còn cần phải chống tăng huyết áp, bỏ thuốc lá, tập luyện thể lực đều nữa. Đó là đề tài đề cập đến vào dịp khác. Mâu thuẫn đó là do mỗi người có một tạng khác nhau về tổng hợp nhiều ít cholesterol, có có lẽ do di truyền. Mặc dù vậy theo chế độ ăn uống khoa học như đã trình bày ở trên, vẫn cứ giảm được cholesterol một cách tương đối, và qua đó giảm tương đối nguy cơ mắc đau thắt ngực và nhồi máu cơ tim. Không nên ăn dầu dừa, dầu cọ, mỡ bò, nhất là bơ.
KS Minh Tiến- Trí Thức Trẻ – số 19 – tháng 1 – 1997.

Thử tìm cội nguồn của hạnh phúc

Trong bao nhiều lời chúc tụng mà con người hàng ngày vẫn dành cho nhau thì chúc hạnh phúc hầu như là câu cửa miệng. Hạnh phúc trở thành ước muốn và mục đích vươn tới của mỗi người. Để đạt được nó người ta dùng nhiều cách khác nhau, bằng việc làm cụ thể và bằng cầu nguyện thành tâm. Nhưng quan niệm về hạnh phúc thì không phải ai cũng giống nhau. Có những người vui mừng từ một chi tiết nhỏ, trân trọng những giây phút hạnh phúc như một món quà vô giá. Nhưng lại có người suốt đời đi tìm kiếm hạnh phúc, theo quan niệm riêng của mình, để chẳng bao giờ gặp được. Vậy thì hạnh phúc có sẵn trong ta từ trước khi ta chào đời hay nó mới chỉ đến sau này?
Cảm giác hạnh phúc luôn là bạn đồng hành của con người, không phụ thuộc vào tuổi tác, nơi ở, sự giàu nghèo hay màu da. Nó có thể ở nấc thang cao nhất của tình cảm con người, song không phải ai cũng cảm nhận nó như nhau. Hạnh phúc mang nhiều dáng vẻ khác nhau và thật khó mà đem chúng ra so sánh. Ngay cả tên gọi trạng thái tình cảm này cũng rất khác nhau. Cái gọi là hạnh phúc vô biên không phải bao giờ cũng có chung một xuất phát điểm đối với tất cả mọi người. Hạnh phúc vô biên đến với người thợ thủ công khi trước mặt anh ta là một sản phẩm đồ gốm mới, nhỏ bé nhưng xinh xắn và có ích cho đời. Hạnh phúc vô biên cũng là niềm vui trong mắt đứa bé đang đóng vai người nghệ sĩ tí hon mà trước mặt chỉ có một khán giả duy nhất là người mẹ. Tất cả những niềm vui, dù lớn dù nhỏ, đều góp phần tạo nên một kim tự tháp khổng lồ của niềm hạnh phúc. Trong cuộc đời mỗi con người, có hai loại hạnh phúc thường được nhắc đến: hạnh phúc bất ngờ và hạnh phúc thường ngày. Nhà tâm lý học người Mỹ là Ed Diener sau khi phân tích 3.240 cảm giác hạnh phúc, chỉ tìm ra được 37 trường hợp hạnh phúc bất ngờ đã đi đến kết luận: “Những may mắn bất ngờ không có ý nghĩa lớn lao. Quan trọng chúng là sự xuất hiện thường xuyên những giây phút hạnh phúc”. Nhìn từ góc độ y học, bộ nhớ của chúng ta được cấu tạo chủ yếu để nhớ một số lượng lớn những giây phút hạnh phúc ngắn ngủi hơn là để tiếp nhận sự bùng nổ hạnh phúc lớn một lúc. Có nhiều thứ làm nên hạnh phúc con người. Nhưng theo con số điều tra tiến hàng tháng 7 năm 1996, tại Ba Lan có đến 38% số người được hỏi cho rằng cuộc sống gia đình yên ấm là điều kiện cần thiết bảo đảm cho còn người ta có hạnh phúc lâu dài. Các tiêu chí tiếp đó được kể ra là mức thu nhập cao, sự thanh thản lương tâm, việc làm phù hợp. Các nhà xã hội học đã thống nhất ý kiến cho rằng cái chìa khó quan trọng nhất mở cửa vào hạnh phúc không chỉ là những ý nghĩ tích cực mà trước hết là năng lực chấp nhận những cái tiêu cực. Bởi cái xấu là một phần không thể tách rời của cuộc sống, nó len lỏi vào những niềm vui lớn, những lo toan nhỏ, những thành công và thất bại. Cũng có người mơ ước không phải làm việc, song trong thực tế nhiều người chính nhờ công việc mà có được những giây phút hạnh phúc. Các kết quả nghiên cứu đều đồng nhất với nhau một điểm tiền bạc không mang lại hạnh phúc. Nhà nghiên cứu người Hungari là Mihaly Csikszentmihalyi suốt hai mươi năm miệt mài với các công trình về hạnh phúc, đã tìm ra một hiện tượng gọi là sự ngược đời của lao động. Ông đã chứng minh rằng trong lao động con người ta có nhiều giây phút thoải mái dễ chịu hơn là trong thời gian rỗi rãi. Còn các con số điều tra ở Ba Lan thì lại cho thấy là có đến 61% số người được hỏi tán thành quan điểm là học vấn và thành tựu đạt được trong chuyên môn không phải là điều quan trọng nhất. Kết luận về vai trò của đồng tiền thì không cần phải bàn cãi nhiều. Người ta không tìm thấy mối quan hệ trực tiếp giữa tiềm năng vật chất và cảm giác hạnh phúc ở những người được liệt vào hạng giàu có. Người dân ở các nước giàu hoàn toàn không hạnh phúc hơn những người nghèo khổ sống ở các quốc gia có mức sống thấp hơn. Số lượng những người thừa nhận mình hạnh phúc ở hai khu vực này là như nhau. Chỉ ở các nước nghèo nhất thế giới thí dụ như Bangladesh, nơi mà nghèo đói hành hạ người ta quanh năm suốt tháng, hạnh phúc được đo bằng đồng tiền. Tại một số vùng thuộc loại nghèo đói ở Trung Quốc, người dân không biết trả lời câu hỏi về hạnh phúc, có lẽ vì cái họ phải lo hàng ngày là cơm ăn áo mặc trước tiên. Trong quan niệm chung, điều kiện vật chất có một vai trò quan trọng nhằm bảo đảm hạnh phúc. Nhưng kết quả nghiên cứu lại không khẳng định sự phụ thuộc này. Ở Mỹ người ta đã tiến hành điều tra 100 nhà triệu phú và 100 công dân gặp tình cờ. Kết quả là ở cả hai nhóm người này những cảm giác và trạng thái hạnh phúc được xác định rất giống nhau. Mỹ là một quốc gia giàu có, song tỷ lệ những người tự nhận mình là hạnh phúc cũng chỉ tương tự như ở Ba Lan. Arystoteles đã từng nói đại ý, ai cũng có thể là người hạnh phúc, chứ không chỉ có những người sinh ra dưới một ngôi sao may mắn.
PTS. Nguyễn Chí Thuật- Trí Thức Trẻ – số 19 – tháng 1 – 1997.

Làn sóng thứ tư trước thềm thế kỷ mới – Phần 2

Tuy là một ngành khoa học trẻ nhưng nó đang được quan tâm, nhất là ở các nước phát triển. Ở Mỹ, trường Đại học Buffalo bắt đầu đào tạo cử nhân và học cao học ngành này (BS, BA, MA in creativity and Innovation) vào những năm 70. Ở Nga tình hình cũng tương tự như vậy. Ngay cả trường Đại học Harvard chuyên đào tạo các nhà doanh nghiệp cũng chỉ mới đưa môn học này vào cao học quản trị kinh doanh từ năm 1984. Cùng với việc giảng dạy, các tạp chí chuyên ngành cũng lần lượt được ra đời. Hiện mới có 4 tạp chí chuyên về khoa học sáng tạo được phát hành trên khắp thế giới. Các hiệp hội sáng tạo cũng được hình thành ở các cấp độ khác nhau: quốc gia và quốc tế. Các hội nghị khoa học hàng năm giúp các nhà khoa học gặp gỡ, trao đổi thêm nhiều thông tin về chuyên môn cũng như tình hình phát triển của ngành ở các nước.
Ở Việt Nam từ năm 1997 đã có khóa đầu tiên giảng dạy về môn này. Đến năm 1991, trung tâm sáng tạo Khoa học kỹ thuật, thuộc Đại học tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh (nay là Đại học khoa học tự nhiên thuộc Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh) được ra đời và thường xuyên mở các lớp về các phương pháp tư duy sáng tạo. Tuy vậy, đây cũng chỉ mới là các khóa đào tạo sơ, trung cấp dành cho những người ứng dụng phương pháp luận sáng tạo và công việc thuộc các ngành khác nhau chứ chưa có chế độ đào tạo bậc đại học hoặc cao học về ngành này.
Khoa học sáng tạo và giáo dục đào tạo:
Đại học lần thứ 8 của Đảng cộng sản Việt Nam đã xác định mục tiêu công nghiệp hóa, và hiện đại hóa đất nước. Tổng bí thư Đỗ Mười trong bài phát biểu tại Hội nghị Trung ương 2 (khóa 2) đã nói: “Giáo dục cho học sinh, sinh viên lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, có bản lĩnh vững vàng, có tư duy sáng tạo, và năng lực thực hành giỏi, có chí học tập, rèn luyện để lập thân, lập nghiệp, vững vàng tiếp bước các thế hệ đi trước, góp phần đưa đất nước đến hưng thịnh, phú cường”.
Từ điểm xuất phát thấp chúng ta đang phải giải quyết vô vàn khó khăn để rút ngắn con đường phát triển mà chính con người là chủ thể sáng tạo trên con đường ấy.
Nhiều nước đã nhận thức được vấn đề nên họ tăng cường đầu tư cho giáo dục. Gần đây hội nghị quốc tế về giáo dục và nguồn nhân lực đã được tổ chức ở Thái Lan (8 – 1996). Một trong những vấn đề được hội nghị quan tâm là khoa học sáng tạo và giáo dục. Singapore cũng rất quan tâm đến môn học này và có kế hoạch chi 1 tỷ đô la trong vòng 5 năm cho chương trình tư duy sáng tạo. Phải chăng nhiều nước đã thấy: việc giảng dạy trong trường học xưa nay chỉ quan tâm nhiều đến việc truyền thụ kiến thức mà chưa đánh thức được khả năng sáng tạo tiềm ẩn của mỗi học sinh. Họ muốn tránh những lối mòn hay sức ỳ cố hữu. Báo chí gần đây cho biết Singapore người ta cho phép học sinh được sử dụng tài liệu trong các kỳ thi. Như vậy, quan trọng là xử lý vấn đề, xử lý thông tin chứ không phải là nhớ được bao nhiêu (tất nhiên việc nhớ được bao nhiêu kiến thức cũng rất cần thiết nhưng với khối lượng kiến thức ngày càng nhiều như hiện nay thì nhớ được hết tất cả là điều không tưởng và chức năng đó đã có mạng vi tính đảm nhiệm).
Ở bậc đại học, sinh viên cần có khả năng học tập và nghiên cứu độc lập – một cách học hoàn toàn khác so với các cấp học bên dưới. Khoa học sáng tạo là môn học cần thiết đối với họ.
Đ. N. L – Trí Thức Trẻ – số 31 – 1998

Làn sóng thứ tư trước thềm thế kỷ mới – Phần 1

Làn sóng thứ tư:
Các nhà nghiên cứu cho rằng trong sự phát triển của xã hội loài người có 4 thời kỳ, gọi là 4 làn sóng. Làn sóng thứ nhất là làn sóng nông nghiệp đã đưa loài người thoát khỏi thời kỳ kinh tế hái lượm, săn bắn. Làn sóng thứ hai là cuộc cách mạng khoa học công nghiệp bắt đầu vào thế kỷ 18 với sự ra đời của máy móc, năng lượng tạo động lực phát triển kinh tế. Sự kết hợp giữa máy móc và năng lượng, khởi đầu là than đá, đến dầu mỏ rồi năng lượng nguyên tử làm cho sản phẩm xã hội phong phú hơn rất nhiều so với 5000 năm trước đó – thời kỳ kinh tế nông nghiệp. Vào giữa thế kỷ 20, với sự phát triển của Computer và mạng thông tin tinh vi, loài người bước sang một kỷ nguyên mới. Đó cũng chính là làn sóng thứ 3. Hiện nay chúng ta đang ở vào thời kỳ đầu của xã hội năng động thông tin và theo dự đoán của các nhà chuyên môn thì thông tin với vai trò là sức mạnh bánh lái sẽ còn tiếp tục xuyên suốt thế kỷ 21. Trong thời đại thông tin số hiệu, tin tức đóng vai trò quan trọng. Nhưng cho dù làn sóng thứ 3 đang tấn công vào mọi ngõ ngách của thế gới người ta cũng không thể không nhìn thấy trước một thời kỳ phát triển tiếp theo của nhân loại, thời kỳ hậu tin học. Đó là kỷ nguyên của sáng tạo – sự thai nghén những ý tưởng – làn sóng thứ 4 trong tiến trình phát triển xã hội. Trong thời kỳ này sự sáng tạo, ý tưởng quan trọng hơn những con số, dữ liệu và Computer sẽ được thay thế bằng các “conceptor” giúp cho sự hình thành những ý tưởng của con người, những giá trị mới mà trước đây chưa hề có. Sự hơn kém nhau nằm chính trong sự sáng tạo về kỹ thuật, công nghệ, quản lý… Trong lĩnh vực kinh doanh đó là thời kỳ sáng tạo thay cho cạnh tranh thị phần.
Tiến trình phát triển của xã hội với 4 làn sóng như trên đã được Murakami – một nhà khoa học người Nhật – ví với từng phần của cơ thể con người. Làn sóng thứ nhất: đôi bàn chân bám chặt vào đất lấy chỗ đứng và làm bàn đạp, sử dụng đất để tạo nên sản phẩm. Làn sóng công nghiệp như đôi tay giúp cho mọi thao tác nhanh hơn, hiệu quả hơn, sản phẩm tốt hơn. Làn sóng thứ 3 ứng với tai, mắt, miệng: tiếp nhận và phát đi những thông tin nhanh, nhiều, nhạy. Chức năng ghi nhớ và tính toán của bộ óc được mở rộng nhờ sử dụng Computer và mạng lưới thông tin. Làn sóng thứ tư được ví với bộ óc con người – nơi phát ra những ý tưởng, những sáng tạo chưa từng có tạo nên sức mạnh mới.
Một môn học mới:
Không hẳn đến bây giờ mà từ lâu câu hỏi “làm thế nào để sáng tạo?” đã được đặt ra. Bằng cách nào khi đứng trước những bài toán nảy sinh trong cuộc sống, trong công việc, có thể tìm ra lời giải tối ưu một cách nhanh chóng nhất? Người ta thấy rằng xã hội cũng như khoa học càng phát triển thì càng phải giải quyết nhiều vấn đề phức tạp. Lời giải không đơn giản chỉ một chiều mà nó được đặt trong mối liên hệ của hệ thống với không gian nhiều chiều. Các nhà khoa học nghiên cứu những đặc điểm của tư duy và đúc kết lại thành những phương pháp giúp con người rút ngắn con đường tới các giải đáp. Môn khoa học về sáng tạo, mới chỉ ra đời vào những năm cuối của nửa đầu thế kỷ 20, hiện nay được xem là một trong những ngành học trẻ. Nói như vậy không có nghĩa là từ xưa tới nay con người không suy nghĩ và sáng tạo, nhưng khoa học hóa quá trình này chỉ mới gần đây: (Thuật ngữ “creatology” mới ra đời vào đầu những năm 90 của thế kỷ này). Hiện nay trên thế giới có hai trường phái phương Tây (Mỹ Anh) với A. Osborn và Edxard Dc Bono và trường phái của Nga (Liên Xô cũ) do Altshuller đứng đầu.
Đ. N. L – Trí Thức Trẻ – số 31 – 1998