Monthly Archives: June 2016

Cứu hộ tại nạn hạt nhân

Những cổ máy tự động này được chế tạo để đương đầu với một môi trường phóng xạ.
Nhiệm vụ: Có thể hoàn thành được. Đối tượng can thiệp bằng robot trong trường hợp tai nạn hạt nhân. Tất cả có 20 cái 10 ở Pháp, và 10 ở Đức, sẵn sàng, hoạt động 24 giờ trên 24 giờ. Lực lượng can thiệp duy nhất trên thế giới này có thể tham gia hoạt động ở ngoài châu u mà vẫn đủ lực lượng bảo vệ ở nhà. Những Robot đi trên các dây xích, mở các van và cửa theo kiểu chiến tranh giữa các vì sao, đánh hơi bức xạ và thu hồi những mảnh vụn, xúc và ủi, không có người lái, cả đơn vị từ tháng 7 đã được đặt vị trí tại trung tâm hạt nhân Chinon. Vô tuyến điều khiển, đôi khi từ một trạm bọc sắt từ xa, những phương tiện này có thể đương đầu, với môi trường bức xạ. Được tôi luyện trong các phòng thí nghiệm quân sự Thompson và Giat, bộ phận điện tử của chúng chịu đựng được những bức xạ có thể giết người. Nguyên tắc cho phép một liều lượng là 50 rems trong trường hợp khẩn cấp để cứu một người. Những Robot nhỏ bên trong có thể chịu được 1000 rems. Kỹ sư Cluande Huanlt thuộc cơ quan Intra giải thích, Intra là một tổ chức do 3 đơn vị thành lập: EDF, Cogema và CEA chuyên hoạt động về hạt nhân, với sự cộng tác của học viện bảo vệ và an toàn hạt nhân, được thành lập từ năm 1988, sau thảm họa Tchernobyl. 8 năm hoạt động với số vốn là 2 trăm triệu Franc, Intra đã chế tạo ra thế hệ Robot thứ hai với sự cộng tác chặt chẽ của Công ty KHG của Đức, chuyên về Robot. Sau Tchernobyl nơi mà người Xô Viết đã gửi tới 200 quân lính và lính cứu hỏa tỏa ra trên mái của lò phản ứng, ở Pháp người ta hiểu ra là phải làm gì, trong lúc xảy ra tai nạn. Từ đó, xuất phát ý kiến là phải chế tạo những Robot để xem xét và chuẩn bị thực địa, trước khi cử những người đến khắc phục hậu quả. Ở Tchernobyl, giai đoạn thoát phóng xạ đã kéo dài 10 ngày, Philippe Vesseron giám đốc Intra giải thích. Mỗi Robot là sự tập hợp những kỹ thuật có thể chịu đựng được phóng xạ, và điều khiển, những kỹ thuật viên của các trung tâm hạt nhân đã được đào tạo, huấn luyện để chỉ huy những cổ máy đó. Người ta dự kiến là sự tham gia của Robot sẽ được thực hiện ngay sau khi xảy ra một vụ khủng bố hoặc một sự cố kỹ thuật, khiến cho sự phóng xạ hạt nhân nảy ra ở bên ngoài một trung tâm công nghiệp. Từ căn cứ Chinon, các Robot có thể di chuyển, trong vòng 24 giờ, tới hai chục trạm hạt nhân Pháp, của Trung ương và các xí nghiệp tái sử dụng lý. Sau đó là hoạt động bắt đầu. Tất cả Robot đều có trang bị Camera và Micro giúp cho các nhân viên điều khiển phát hiện hiện trường qua âm thanh và hình ảnh. Trong trường hợp tai nạn hạt nhân, chúng đo lượng bức xạ, chung quanh và phát hiện ra nguồn xuất phát. Ở phía ngoài, những Robot hạng nặng vét nạo và đánh đống đất bị ô nhiễm, đào hố và vét nước để thu gom nước bị ô nhiễm. Ở Tchernobyl người ta đã nhìn thấy những máy xúc, với lớp tôn bảo vệ, mở đường cho việc làm các túi đựng xác Jacques nhắc lại. Những Robot nhỏ nhất đi vào phía trong trên các lớp xích, leo các cầu thang. Được điều khiển qua vô tuyến, chúng ngắt những cầu dao để tự động khóa van, thu lượm những dụng cụ vương vãi.. và dựa vào những camera chúng kiểm tra các hệ thống điện. Còn một vấn đề duy nhất là những Robot nhỏ đó được nối với bên ngoài bằng một sợi dây cáp điện, cái nhau này ngăn chúng không đi sâu được vào trung tâm của lò phản ứng, vì chúng phải đi qua một buồng thông áp. Thế hệ thứ ba sẽ giải quyết sự vướng mắc này và cải thiện hơn nữa hệ thống thông tin, kể cả việc chế tạo một trực thăng vô tuyến điều khiển để lập một bản đồ phóng xạ vùng lân cận Jacques Đuwas nói. Trong khi chờ đợi những sự cố lớn xảy ra để thử thách, ở nhà máy điện hạt nhân Tricastin, hai Robot đã được điều động tới để rút hai ống lọc phóng xạ bị đẩy ra khỏi thùng bê tông. Riêng bộ phận cao su của cây kẹp đã bị nhiễm xạ và phải thay. Trong 3 ngày, hai Robot đã tích tụ một lượng phóng xạ 5 rems, liều lượng tối đa của một công nhân ở lò phản ứng có thể chịu được, trong một năm.
(Theo Le Monde tháng 11 năm 1996)
T.D- Trí Thức Trẻ – số 19 – tháng 1 – 1997.

Nhà khoa học trẻ gắn bó với ruộng đồng

Vượt lên 142 giải pháp tham dự hội thi sáng tạo khoa học kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh năm 1996, đề tài nghiên cứu áp dụng các biện pháp kỹ thuật xử lý đất trồng bị ô nhiễm dầu do vùng ven Thành phố Hồ Chí Minh của phó tiến sĩ Nguyễn Đăng Nghĩa và các cộng sự của anh ở bộ môn nghiên cứu đất và phân bón thuộc viện khoa học công nghiệp miền Nam được hội đồng ban giám khảo chọn trao giải đặc biệt. Sự cố tràn dầu ở Cát Lái ngày 3 tháng 10 năm 1994 do tai nạn dầu Neptune Aries của Singapore đã làm tràn 1.680 tấn dầu Do ra các tuyến sông Sài Gòn gây ô nhiễm gần 30 nghìn héc ta ruộng lúa và ao đầm thủy sản của nông dân. Sự cố tràn dầu này không chỉ đơn thuần làm thiệt hại nghiêm trọng về kinh tế của bà con nông dân trong vụ mùa năm 1994 mà hậu quả của nó còn lại trong những năm sau là khôn lường. Từ những năm 1990 trên thế giới đã hình thành và phát triển công nghệ làm sạch môi trường bằng con đường phân hủy sinh học nhưng vấn đề làm sạch môi trường trong điều kiện dầu bị nhiễm vào đất đang canh tác nông nghiệp thì chưa có một nghiên cứu hoặc một kinh nghiệm nào. Nghiệt nỗi, diện tích bị ô nhiễm dầu nặng tập trung ở huyện Nhà Bè và Cần giờ thuộc vùng nông dân nghèo đời sống kinh tế phụ thuộc vào cây lúa. Trước thực trạng này, là những người làm công việc nghiên cứu khoa học lại gắn bó với ruộng đồng, chúng tôi chẳng lẽ bó tay? Phó tiến sĩ Nguyễn Đăng Nghĩa kể. Anh bật mí cho tôi biết chính ra anh không phải là người nhà quê. Sinh ra và lớn lên ở thành phố Hải Phòng, những ngày Mỹ ném bom miền Bắc, anh theo cha mẹ sơ tán về nông thôn và chính quãng thời gian này đã giúp anh gần gũi, hiểu và gắn bó với đời sống của người nhà quê. Tốt nghiệp phổ thông anh quyết định thi vào khoa trồng trọt Đại học Nông nghiệp I với nguyện vọng làm được cái gì đó để giúp ích bà con nông dân nghèo. Sây me, gắn bó với ngành học, ngay từ thời sinh viên anh đã đoạt giải thưởng “sáng tạo khoa học” với đề tài bèo hoa dâu. Ra trường năm 1978 anh được giữ lại làm cán bộ nghiên cứu và giảng dạy. Được đi tu nghiệp nhiều lần ở nước ngoài, được mở rộng tầm nhìn, tầm hiểu biết, anh lại càng thương bà con nông dân và anh đã gắn niềm vui, nỗi buồn của mình với nỗi niềm chân chất của họ. Vào công tác tại Viện khoa học Nông nghiệp miền Nam, anh đã đầu tư công sức rất nhiều cho đề tài hiệu lực phân lân cho đất phèn Đồng Tháp Mười và chính đề tài này đã giúp anh nhận được học bổng là 13 nghìn đô la Mỹ của Trung tâm quốc tế nghiên cứu và phát triển nông nghiệp nhiệt đới năm 1992. Năm 1994, anh phát triển đề tài này và bảo vệ thành công luận án phó tiến sĩ nông nghiệp. Cũng vì đam mê và lỡ gắn bó với nghề nên không thể anh bỏ lửng câu trả lời khi tôi hỏi đến đời sống của anh. Lương cán bộ nghiên cứu khoa học cộng tất cả các khoản phụ cấp chưa tròn 5 trăm nghìn đồng một tháng, trong khi đó, với học vị như anh nhiều công ty nước ngoài mời gọi với mức lương hậu hĩnh nhưng anh vẫn từ chối. Dầm mưa dãi nắng cùng bà con nông dân cả hàng tháng trời mà mình vẫn thấy vui nhất là khi bà con được mùa, hạnh phức lắm chứ. Anh tâm sự. Xin quay lại đề tài mà anh vừa đoạt giải. Sau một thời gian dài nghiên cứu, thí nghiệm từ trong phòng thí nghiệm, trong nhà lưới đến thí nghiệm đánh gái trên ruộng lúa, anh đã đưa ra kết luận tác hại của dầu Do và các sản phẩm của dầu đến cây lúa theo hai hướng tác hại trực tiếp ngay ở thời kỳ đầu khi tiếp xúc với dầu, toàn bộ thân, lá và rễ cây lúa bị bao phủ bởi một lớp dầu gây đình chỉ khả năng trao đổi chất của cây lúa. Tác hại gián tiếp ở thời kỳ sau đó dầu tiếp xúc với đất làm xấu đi môi trường dinh dưỡng của cây. Để chứng minh điều này anh Nghĩa đã bố trí thí nghiệm gây tràn dầu trên mặt nước tại giai đoạn cây lúa đang làm đồng và điều chỉnh mực nước tương đương thời điểm xảy ra sự cố tràn dầu. Kết quả đánh giá ảnh hưởng của lượng dầu tràn đến tình trạng trổ bông của lúa như sau. Với mức độ 5 trăm lít dầu Do cho 1 héc ta cây lúa vẫn trổ bông bình thường nhưng bông nhỏ hơn. Khi lượng dầu lớn hơn 500 lít dầu cho 1 héc ta, cây lúa bị chết và cháy rụi toàn bộ thân lá. Hơn thế nữa, dầu Do đã ảnh hưởng tới thành phần và số lượng vi sinh vật trong đất, các chủng vi sinh vật hữu ích bị tiêu diệt, làm tăng nguồn thức ăn cho các chủng vi sinh vật gây hại sản sinh ra độc tố là CH4, H2S… làm chết lúa ảnh hưởng đến các điều kiện về mặt sinh học và hóa học trong môi trường đất theo chiều hướng bất lợi cho cây trồng và độ phì thực tế của đất. Dựa trên cơ sở vừa đảm bảo dinh dưỡng cho cây lúa sinh trưởng, phát triển bình thường, vừa tạo môi trường thuận lợi cho các chủng vi sinh vật có lợi hoạt động, đồng thời các bước tiến hành phải đơn giản, phù hợp với đất đai, địa hình và tập quán thăm canh lúa của nông dân, sau khi tham khảo một số quy trình xử lý dầu của Thụy Điển, anh Nghĩa đã đưa ra quy trình xử lý dầu áp dụng trên diện tích đại trà.
Lý Thành Tâm- Trí Thức Trẻ – số 19 – tháng 1 – 1997.

Tên lửa pháo rào

Trong cuộc chiến tranh trước đây ở miền Nam Việt Nam, quân Mỹ và ngụy khiếp sợ nhất trước cách đánh xuất quỷ nhập thần của bộ đội đặc biệt tinh nhuệ của ta. Từ sở chỉ huy đầu não đến các đồn bốt được canh giữ cẩn mật nhất đều bị quân ta tiến công. Về sau địch đã phải phát triển cả một ngành công nghiệp hùng hậu chuyên chế tạo các kiểu hàng rào dây thép gai để bảo vệ căn cứ, đồn bốt. Thép gai vừa cứng, vừa có hình móc câu, rất khó dùng chiến thuật cắt, tháo, chui luồn để vượt qua. Ngoài ra còn có hệ thống báo động, hồng ngoại hỗ trợ cùng với các bãi mìn chống bộ binh và chống xe tăng. Các biện pháp đột nhật cổ điển của ta như dùng bộc phá đồng loạt, mìn định hướng để tạo cửa mở đều tỏ ra kém hiệu quả hoặc hoàn toàn bất lực. Từ thực té chiến đấu đó, Bộ quốc phòng giao nhiệm vụ cho Viện kỹ thuật quân sự thiết kế chế tạo một kiểu vũ khí phá rào vừa có tác dụng phá được hàng rào dày đặc của Mỹ – Ngụy, lại giữ được ưu thế bất ngờ, chớp nhoáng, dễ sử dụng. Qua nghiên cứu thành tựu khoa học kỹ thuật quân sự nước ngoài, nhóm đề tài do các đồng chí kỹ sư Trần Đức Minh, Vũ Ngọc Oanh phụ trách quyết định chọn tến lửa phá rào làm mẫu vũ khí để tham khảo. Hồi đó, trên thế giới, trong quân đội các nước tiên tiến như Liên Xô, Ba Lan mà ta có điều kiện tiếp cận, đã có các loại tên lửa phá rào, phá mìn trang bị cho lục quân. Nhưng đó là thứ vũ khí được chế tạo trong các nhà máy hiện đại. Tập thể cán bộ nghiên cứu của Viện kỹ thuật quân sự đã quyết định tự thiết kế chế tạo tên lửa phá rào theo kiểu chế tạo tên lửa phá rào theo kiểu của ta. Đó là một giàn phóng. Khi phát hỏa động cơ tên lửa DKB bay về phía trước lúc đó có sẵn trong trang bị của quân đội ta kéo theo một bó dây cáp nhựa gắn liền với hàng chục ống bộc phá. Đến một cự lý đã định, cả động cơ tên lửa và toàn bộ bó dây mang theo bộc phá được neo lại và do quán tính sẽ được rải đều trên một diện tích rộng và được phát hỏa. Hàng loạt bộc phá nổ có thể xé toang hàng rào dây thép gai bùng nhùng và tạo cửa mở rộng tới 5 đến 10 mét. Các loại mìn cài dưới đấy cũng bị kích nổ. Viện kỹ thuật quân sự phối hợp với một số cơ sở công nghiệp trong và ngoài quân đội, trong đó chủ yếu là nhà máy Z113 chế tạo tên lửa phá rào theo điều kiện kỹ thuật và công nghiệp của ta cuối những năm 1960. Loạt thử nghiệm đầu tiên được tiến hành thành công tại một trận địa mô phỏng trên đồi Tam Đảo – Vĩnh Phú trước sự chứng kiến của Thủ tướng Phạm Văn Đồng và Đại tướng Võ Nguyên giáp. Các đồng chí lãnh đạo của Đảng và nhà nước ta rất vui mừng ra chỉ thị trực tiếp cho sản xuất để phục vụ chiến trường. Để tăng hiệu quả sử dụng, cán bộ kỹ thuật của ta đã chế tạo tên lửa phá rào dùng cho bộ binh, công binh, và cho xe tăng. Chiến công đầu tiên của tên lửa phá rào của ta được lập nên trong trận tiến công căn cứ Ái Tử nổi tiếng mở màn chiến dịch Trị – Thiên năm 1972 cực kỳ ác liệt. Trên chiến trường Tây Nguyên trong chiến dịch Đắc Tô – Tân Cảnh năm 1972 trung đoàn 52 thuộc sư đoàn 320 quân đoàn 3 dùng tên lửa phá rào mở đường tiêu diệt căn cứ Kleng cách thị xã Kon Tum 25 km về phía tây. Để tỏ lòng biết ơn lao động khoa học sáng tạo của ngành quân giới Việt Nam, cán bộ chiến sĩ quân đội ta thường gọi tên lửa phá rào là “Rồng lửa Việt Nam”.
Một ví dụ điển hình nhất về thuật yểm trợ phong thủ trong việc kinh doanh sòng bạc casino theo mấy ông chủ người Hoa ở Hồng Kông là casino mang hình dạng sư tử hống, mặt tiền là cửa ra vào lớn, các khách đến chơi bạc đều tự nguyện lần lượt chui vào bụng ông chúa sơn lâm mà nạp mạng. Xét về mặt tâm lý thì hình dạng mặt sư tử đang há miệng, nhe nanh kia, như một biểu tượng có năng lực khống chế lại cái đà muốn thắng bạc của mọi đối thủ bước vào sòng bạc chăng? Còn cái sòng bạc mang hình kim tự tháp đầy bí ẩn ở hoang mạc Las Vegas dễ thường cũng là sản phẩm của mấy ông thầy chiêm tinh xứ Hoa Kỳ xui cánh chủ sòng bạc casino xây cất nên, cùng với những bức tượng nhân sư trầm mặc, bên ngoài các Casino để níu chặt, không buông tha túi bạc của bất kỳ ai lạc bước, dù chỉ lần đầu. Sẽ thật là nực cười nếu một ai trong số chúng ta chợt nảy ra ý định thử vận đỏ đen ở những sòng bạc casino ấy. Bởi cầm chắc là một khi bước vào trong những tòa nhà cổ quái đầy sức mê hoặc ấy, chỉ lúc nào bạn đã sạch túi mới có thể thân tàn ma dại lê bước ra ngoài trong nỗi chán chường, tuyệt vọng vì tắt lịm những ảo tưởng hốt bạc trong giây phút.
Lê Minh Quang- Trí Thức Trẻ – số 19 – tháng 1 – 1997.

Bức tranh ẩm thực của các nước

Vương quốc ăn cá: Nước Nhật bốn bề là biển. Biển cung cấp cho người Nhật nguồn hải sản vô tận. Người Nhật có hơn 300 cách ăn cá, ăn sống, gỏi, chín, khô, ướp… Mỗi ngày người Nhật ăn đến 96 gam cá, là dân tộc ăn cá nhiều nhất thế giới. Gần đây người Nhật còn sản xuất “cá hộp sống”. Cá sống tiêm thuốc cho cá ngủ rồi đóng vào hộp, cá sống được mấy ngày không chết, mở hộp ra thả cá vào nước, cá liền sống lại. Nhờ có mặt hàng mới này, người ở xa biển cũng được ăn cá tươi. Theo các nhà nghiên cứu cho rằng nhờ ăn nhiều cá mà tuổi thọ của người Nhật đứng vào loại hàng đầu thế giới.
Quốc gia thích ăn dưa muối: dưa muối là món ăn người Triều Tiên rất thích, nó có vị chua, cay, ròn, thơm hấp dẫn. Bất kể là bữa cơm gia đình hay yến tiệc quốc gia đều không thể thiếu món dưa dân tộc này. Mùa xuân và mùa hè họ muối củ cải, rau cải, dưa chuột, cà… Mùa thu muối hành, tỏi, gừng, ớt,… Công nghệ muối rất tinh xảo, pha chế nhiều thêm gia vị để được dài ngày.
Quốc gia ăn trầu cau: Ở một số nước vùng Đông Nam Á đều có phong tục ăn trầu như Miến Điện, Philipin, Malaysia, Thái Lan và Việt Nam là những nước dùng trầu cau trong việc tỏ tình, cưới xin, và tang lễ.
Đất nước uống trà quái lạ: phong tục uống trà đối với các nước Trung Quốc, Việt Nam, Nhật Bản là chuyện bình thường. Ở Nhật Bản uống trà được nâng lên thành “đạo trà” người Mianma, Miến Điện cũ, cũng rất thích uống trà, nhưng không phải là trà xanh, trà đỏ, trà đen, trà sữa mà là trà có “mùi quái lạ”. Trong cốc trà, người Mianma thường cho thêm bột đậu vàng, bột tôm, nước mắm, hành tây thái nhỏ, ớt khô, uống vào có vị mặn, cay, ngọt, chát, tanh. Người nước ngoài bưng cốc “trà quái lạ” ngửi sẽ nhăn mặt nhưng đối với người Mianma thì rất hợp khẩu vị. Còn người Pakitxtan thì thích uống trà pha sữa. Quốc gia ăn bốc. Người Malaysia trước khi ngồi vào bàn ăn phải rửa tay. Trong bàn ăn thường có mấy bát đựng nước sạch để rửa tay. Họ dùng tay phải để bốc thức ăn, còn tay trái để cầm thìa hoặc đĩa. Dân tộc này coi tay trái là “bẩn thỉu” không bao giờ được bốc thức ăn. Việc cấm kị này cũng được áp dụng trong hoạt động xã giao, khi tặng hoặc nhận quà cũng không được dùng tay trái! Người Ấn Độ cũng dùng tay phải bốc thức ăn và cấm tay trái bốc thức ăn. Người Apganixtan cũng có tục ăn bốc.
Đất nước của ăn nhanh: Người Mỹ rất là quý trọng thời gian và coi trọng hiệu suất. Họ yêu cầu 3 bữa ăn mỗi ngày phải ngon bổ và nhanh tiện, do đấy các xí nghiệp sản xuất đồ ăn nhanh ra đời điển hình kiểu Mỹ hiện nay là món ăn nhanh. Hai chục năm trở lại đây, xí nghiệp sản xuất đồ ăn nhanh không những phổ biến ở Mỹ mà còn lan sang cả thế giới phowng Tây. Món ăn nhanh được hoan ngênh ở Mỹ là bánh mỳ kẹp lạp xưởng, bánh mì kẹp thịt bò còn gọi là Hamburger, bánh mì rán. Cách làm lạp xưởng như băm thịt bò vào thịt lợn lẫn lộn, trộn gia vị, nhồi vào ruột cừu, hun khói xong, đem luộc chín, rồi lại rán. Có lần tổng thống Rudoven sang thăm Anh, bèn giới thiệu món ăn nhanh bánh mì kẹp lạp xường cho vua Anh Giooc dơ thứ 6, từ đó người Anh cũng nghiền món ăn này.
N.Tiêu- Trí Thức Trẻ – số 19 – tháng 1 – 1997.

Quan niệm về số mệnh của các triết gia Trung Hoa

Có lẽ do ảnh hưởng của tư tưởng số mệnh từ Trung Hoa mà nhiều người Việt Nam cũng tin là số mệnh là cái đã được tiền định trước. Thiên cơ và tương lai của một đời người là những bí ẩn mà con người không thể biết trước được, có những biến cố bất ngờ bước ngoặc bất ngờ xảy ra ngoài mọi dự liệu, ngoài khả năng chủ động của con người, và đó chính là cơ sở đã thuyết số mệnh tồn tại và bám rễ.
Thuyết số mệnh ra đời từ xa xưa, trước công nguyên ở Trung Hoa cổ đại, khi mà mọi khoa học tự nhiên và xã hội còn rất là sơ khai, ngay cả những hiện tượng vật lý đơn giản còn chưa ai giải thích được. Nói như vậy để thấy rõ ít nhiều tính chất đơn giản và ngây thơ của thuyết số mệnh. Mặc dù thuyết này đã tồn tại trong lịch sử tư tưởng Trung Hoa hàng nghìn năm, nhưng ở mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn, các triết gia Trung Hoa đã có những quan niệm rất khác nhau về số mệnh. Dòng tư tưởng bi quan nhất về thuyết số mệnh có lẽ thuộc về hai triết gia Trang Tử và Vương Sung. Trang Tử sinh năm 360 mất năm 280 đời nhà Chu cho rằng, con người quá nhỏ bé trong sự vô cùng của vũ trụ, nó phải phụ thuộc vào trời đất chứ không độc lập, không thể làm chủ đời mình. Vương Sung đời nhà Hán sinh năm 27 mất năm 107 thì cho rằng khi mới sinh ra mỗi người đã bẩm thụ một tính chất đặc biệt và vận mệnh của họ đã được định trước rồi. Ông cho may rủi, lụy hại, sang hèn, giàu nghèo đều do mạng cả. Vận nước thịnh suy ông cũng cho là do mạng nước, con người không cải đổi được. Đời mà thịnh trị không phải do công của hiền thành, đời mà suy loạn không phải là do vô đạo. Hai triết gia nổi tiếng khác là Khổng Tử và Mạnh Tử cũng cho rằng có mạng trời, được hiểu như luật tự nhiên của hóa công, là cái lẽ vô hình, linh điệu của trời đất mà con người có khi hiểu, có khi không. Nhưng Khổng Tử không xem đó như định mệnh, vì thiên mạng có thể biết được, còn thành bại không thể biết được. Tuy là có mạng nhưng hai ngài vẫn chú trọng đến sự chủ động của con người, khuyên người đời hãy làm cho hết sức mình rồi thành bại ra sao mới biết được mạng trời, tận nhân lực, tri thiên mạng. Sau này có ba triết gia khác là Trương Hoành Cừ sinh năm 1020 mất năm 1077, Trình Hạo sinh năm 1032 mất năm 1085, và Trình Di sinh năm 1033 mất năm 1107 đời nhà Tống của cùng tư tưởng với Khổng Mạnh, họ cho rằng con người phải cư xử theo nghĩa, nếu gặp điều dữ cũng phải tận lực hành đạo nếu không thành mới nói là số mạng. Tư tưởng này phù hợp với Kant, nhà triết học cổ phương Tây. Nghĩa vụ cứ làm số kiếp cứ mặc. Tuân Tử và Mặc Tử là hai nhà tư tưởng cương liệt và lạc quan nhất trước thuyết số mệnh. Mặc Tử sinh năm 408 mất năm 397 đời nhà Chu, phủ nhận số mạng, ông cho rằng họa phúc của con người là kết quả của hành động chứ không phải là do số mạng. Khổng Mạnh thì khuyên rằng con người hãy cố gắng hết sức, việc không thành mới bảo tại mạng, nhưng Mặc Tử thì kiên quyết hơn việc không thành là do sức chưa đủ chứ không phải tại mạng. Tuân Tử sinh năm 330 mất năm 227 thời Chiến Quốc thì cho rằng, không cần lưu tâm đến thiên mạng không những vì nó không thể hiểu được, không thể biết trước, mà còn vì thiên mạng không liên quan gì tới con người và con người có thể thắng số. Nếu ta siêng thì trời không thể làm cho ta nghèo được, nếu ta lười thì trời cũng không giúp ta giàu được. Con người có thể chuyển bại thành thắng, mạng tuy có nhưng không phải là cái bất khả kháng. Đây là một lập trường hết sức lạc quan, đầy hùng tâm và dũng khí. Trần Đoàn thời nhà Tống người sáng lập ra thuyết tử vi, cho rằng con người sinh ra ai cũng có trước một số phận thể hiện trên lá số tử vi. Nhưng ông cũng không cho rằng đó là sự xếp đặt cố định không thể cưỡng lại, mà đó chỉ là một khả năng hay một khuynh hướng. Nếu tin vào định mệnh tuyệt đối con người sẽ chối bỏ hết tự do, buông xuôi mặc cho thời cuộc đưa đẩy. Mà thực ra trong những hoàn cảnh bình thường hơn, thuận lợi hơn, cá nhân vẫn có tự do lựa chọn cách xử thế, có thể lựa chọn một hướng đi có lợi dựa vào nghị lực và trí tuệ của mình. Tự do của con người chỉ bị giới hạn trong những hoàn cảnh quá khó khăn mà thôi. Phương châm của tử vi là biết số cải số, biết mình để sửa mình, biết người để sửa người. Tử vi, cho rằng những ai ý muốn có quyết tâm, nỗ lực có ý chí mạnh mẽ và lâu bền đều có thể cải sửa được số mệnh. Xưa nay trường hợp đã năng thắng số, nhân định thắng thiên không phải là hiếm. Ai mất niềm tin không còn hy vọng tất sẽ mất ý định sửa chữa và sẽ bỏ cuộc, phó mặc cho số phận Tử vi khuyên người ta phải biết dấn thân tự tạo, tiến thân cùng với tu thân. Xem ra ở thế kỷ 20 này, nhiều người hiện đại, kể cả thanh niên còn duy tâm mê tín và tin vào số mạng hơn cả các bậc tiền bối sống cách đây 2 nghìn năm. Đó là chưa kể các cụ muốn trách thế hệ hậu bối có nhiều người còn hiểu sai tư tưởng của họ nữa.
Phương Dung- Trí Thức Trẻ – số 19 – tháng 1 – 1997.

Khám phá mới về tiếng cười và lời nói dối

Tại sao người ta cất tiếng cười
Bạn sẽ nhầm to khi cho rằng ta cười là do thấy tức cười quá. Qua một công trình nghiên cứu khảo sát kỹ càng về hành vi của con người, nhà tâm lý học R. Provine ở đại học Marilen của Mỹ mới đây đã đi đến kết luận rằng phần lớn chúng ta không cười vì chuyện hài hước, chỉ có 10% bật cười khi nghe chuyện hài mà thôi. R. Provine tin là tiếng cười bắt nguồn từ hệ thống tín hiệu thứ nhất là cảm tính. Tiếng cười chủ yếu là sự đồng thanh tương ứng thể hiện mối quan hệ xã hội. Kết quả nghiên cứu cho thấy con người có dịp cười trong môi trường có đông người gấp 30 lần khi chỉ có một mình, thậm chí sự kích động của phương tiện nghe nhìn cũng không thay đổi được điều này. Trong khi đó, nhà nhân văn M. Afta ở đại học bang Bắc California của Mỹ cho biết chúng ta cười khi cảm thấy tự tin cởi mở và sảng khoái. Một người cười, người khác cười hưởng ứng nối nhịp cầu thân thiện, cộng thêm tâm lý không muốn làm người duy nhất trong đám đông không cười. Đó là điều lý giải vì sao tiếng cười hay lây khó chữa và đôi khi tiếng cười đã trở thành dịch cười thực sự như trường hợp của Tangasica kéo dài tới 6 tháng, khiến chính quyền phải tạm thời đóng cửa nhiều trường học. Theo giả thiết của học giả J. Morel ở đại học Nam Florida, lần đầu tiên con người cùng hòa chung tiếng cười. Đàn ông thời đó đã cùng cười vang sung sướng khi vừa thoát khỏi nguy hiểm. Và còn vì tiếng cười làm cho các bộ phận cơ thể được thư giãn, các nỗi sợ hãi tan biến đi. Do đó tiếng cười có thể là tín hiệu truyền cảm sự tự tin cho nhau. R. Provine còn cho hay chúng ta không chỉ cười khi cảm thấy vui mà ngay cả khi cảm thấy e thẹn và thất vọng nữa. Con người đã phải hoàn thiện vũ khí tiếng cười của mình để sinh tồn. Chẳng hạn khi phải đối phó với sự xấu hổ hay bị đe dọa, tiếng cười có thể tạo ra bầu không khí thông cảm hoặc hòa bình làm giảm bớt sự căng thẳng đối đầu với nhau.. Trên đây mới chỉ là một trong nhiều định nghĩa về tiếng cười. Cho đến nay các nhà tiểu học dường như vẫn chưa nhất trí với nhau rằng tại sao con người ta cười. Họ chỉ thỏa thuận với nhau rằng tiếng cười khó hiểu hơn nhiều so với sự giận dữ lo sợ, thậm chí cả với tình yêu nữa…
Khoa học về phát triển lời nói dối
Bạn đã bao giờ nói dối chưa. Nếu ai đó lắc đầu thì hẳn là họ đang nói dối. Đành rằng phần lớn những lời nói dối là vô hại đối với xã hội, không gây nguy hiểm cho ai. Vì thế mới có ngày toàn thế giới nói dối là ngày 1 tháng 4. Nhưng trên thực tế cũng có một số người sử dụng mánh khóe dối trá để mưu lợi và làm hại người khác. Nào là người bán hàng lòe ta để bán được hàng tồi với giá đất. Rồi là chuyện kẻ gian che đậy bản chất đê tiện của chúng trước khi làm điều xấu. Do đó thật là hữu ích nếu chúng ta vạch mặt được những kẻ dối trá loại này. Đã một thời bạn từng nghe nói tới máy phát hiện nói dối, nhưng loại máy đó bộc lộ nhiều khuyết điểm. Chẳng hạn máy dựa trên cơ sở cho rằng người nói dối cảm thấy bất thường, sợ hãi, tim đập mạnh, toát mồ hôi, huyết áp tăng… Nhưng hóa ra những kẻ đại bợm vẫn nói dối như Cuội mà mặt lạnh tanh chẳng lộ chút sợ sệt nào. Vì vậy loại máy kiểm tra nói dối kia đành phải xếp xó. Ngày nay, chuyên ngành phát hiện sự dối trá đã có những bước tiến xa. Và người phát hiện nói dối cao thủ nhất thế giới hiện nay là ông Paul Acman ở đại học California của Mỹ. Trong những năm gần đây, P.Acman đã dày công phân loại, phân tích tổng kết các nét biểu cảm trên gương mặt người để phân biệt đâu là thật thà, đâu là dối trá. Có lẽ vì thế mà máy phát hiện nói dối sử dụng chương trình của P. Acman đạt hiệu quả chính xác tới 80 đến 90%. Nhà khoa học này tin tưởng rằng ông có thể phân biệt thật giả chẳng kém gì Bao công xử án. Theo P. Acman sự biểu cảm trên nét mặt tự nhiên và nét mặt gian dối xuất phát từ hai vùng khác nhau trong bộ não. Do đó các cơ trên khuôn mặt cử động khác nhau. Nụ cười chân thật và nụ cười giả dối cũng có sự khác nhau. Từ thực nghiệm đối với nhiều trường hợp, P. Acman đã xác định những tuyến cơ tin cậy chỉ biểu cảm những tâm trạng thật của con người và nằm ngoài tầm kiểm soát lý trí của người đó. Trên thế giới này hiếm ai điều khiển được trừ một vài diễn viên thiên tài. P. Acman và cộng sự là W. Frisen đã lập ra hệ thống giải mã hoạt động của khuôn mặt. Theo hệ thống này, khuôn mặt được chia làm 42 phần để đánh giá các cử động trên đó. Nói chung con người ta có thể diễn tả được khoảng 7 nghìn cử chỉ khác nhau trên khuôn mặt trong đó có khoảng 20 kiểu cười với ý nghĩa khác nhau. Chẳng hạn P. Acman phát hiện thấy rằng khi người ta cười vì sung sướng, phần não ở vùng trán phát sáng, trong khi nụ cười giả bộ không xuất hiện ánh sáng này… Tuy nhiên nếu đi sâu nghiên cứu về chuyện nói dối, các nhà nghiên cứu ngỡ ngàng tự hỏi tại sao phần lớn chúng ta đều không giỏi phát hiện lời nói dối làm sao trong quá trình tiến hóa con người lại không học hỏi được cách thức nhận rõ sự thật và giả dối để giờ đây họ dễ dàng bị người khác cho leo cây. Câu hỏi còn để ngỏ cho bạn đọc tự tìm thêm lời giải đáp cho vấn đề lý thú này…
Thanh Sơn- Trí Thức Trẻ – số 19 – tháng 1 – 1997.

Lược truyện các bậc tổ sư

Sách lĩnh Nam chính quái và sách Thiền uyển tập anh đều có chép sự tích của một bậc danh tăng, đó là Dương Không Lộ tu hành tại chùa Nghiêm Quang, tọa lạc tại huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình ngày nay. Trong dân gian, chùa Nghiêm Quang hay chùa Thần Quang được gọi là chùa Keo. Dương Không Lộ vừa là một danh tăng lại cũng vừa là bậc được dân địa phương tôn làm tổ sư của nghề đúc đồng. Ông người làng Hải Thanh nay thuộc Nam Hà, sinh vào năm nào chưa rõ, chỉ biết rằng ông sống vào khoảng thời Vua Lý Nhân Tông năm 1072 đến năm 1127, mất vào ngày mồng ba tháng sau năm Ất Hợi năm 1119. Sách Đại Việt sử lý toàn thư chép chuyện danh tăng Nguyễn Minh Không, tên thật là Nguyễn Chí Thành, người làng Đàm Xá nay thuộc Ninh Bình, sinh năm 1065, mất năm 1141. Nguyễn Minh Không nổi tiếng nhờ công chữa lành bạo bệnh cho vua Lý Thần Tông năm 1128 đến năm 1138, cho nên được tôn là Lý Quốc Sư. Trong dân gian, Lý Quốc Sư cũng được coi là một trong những bậc tổ sư nghề đúc đồng. Dương Không Lộ và Nguyễn Minh Không đều được tôn là tổ sư của nghề đúc đồng có lẽ vì cả hai bậc danh tăng này đều có công đúc chuông đồng và để lại cho đời những kinh nghiệm quý giá về nghệ thuật đúc chuông. Tuy nhiên, nếu xét ở góc độ tu hành, tên tuổi của Dương Không Lộ và Nguyễn Minh Không được đời đời biết đến, thì ở góc độ cống hiến cho nghề luyện và đúc đồng, cả hai đều chỉ mới là tổ sư của từng khu vực nhất định mà thôi. Bậc tổ sư của nghề đúc đồng được dân gian biết đến nhiều nhất vẫn là Sư Khổng Lồ một nhà sư chỉ có trong kho tàng truyện cổ tích nước ta. Khổng Lồ vừa có dáng dấp của một nhà sư lại cũng vừa có hành trạng của một đạo sĩ. Chuyện Sư Khổng Lồ tóm lược như sau: Sư Khổng Lồ là một bậc chân tu, có nhiều phép thần thông kỳ lạ. Nhà sư cũng là người có tài trị bệnh cứu đời. Một hôm, Sư Khổng Lồ quyết định đi khắp bốn phương, quyên giáo đô đồng trong thiên hạ về để đúc chuông. Thế rồi nhà sư đến Trung Quốc. Bây giờ, Thái Tử của hoàng Đế Trung Quốc chẳng may lâm bệnh nặng, bao bậc danh y được gọi tới để chữa trị mà rốt cuộc vẫn phải bó tay. Nghe tiếng Sư Khổng Lồ, Hoàng Đế liền sai người đến gọi. Lạ thay, Sư Không Lồ chỉ mới cho uống vài thang thuốc, bệnh của Thái Tử đã khỏi hẳn. Hoàng Đế Trung Quốc ra lệnh lấy thật nhiều vàng bạc ban thưởng cho Sư Khổng Lồ, nhưng nhà sư một mực từ chối, chỉ nói: Nếu bệ hạ có lòng, xin hãy cho kẻ tu hành này một túi đầy đồng. Sư Khổng Lồ chìa ra một cái túi chỉ dài đúng ba gang. Hoàng Đế Trung Quốc cười và nói rằng: Chỉ một túi ấy không thôi ư? Ta cho phép người vào tất cả mười kho đồng của ta, muốn lấy bao nhiêu cứ lấy. Sư Khổng Lồ vào, trút hết cả mười kho đồng lớn mà cái túi ba gang vẫn chưa đầy. Xong, nhà sư vác túi lên vai, ung dung về nước. Mỗi lần qua sông, không một chiếc thuyền nào có thể chịu nổi sức nặng của cái túi ba gang, bởi vậy, Sư Khổng Lồ phải ngửa cái nón tu lờ nón của các nhà sư mà mình đang đội để làm thuyền vượt sông. Về nước, nhà sư đã đem số đồng ấy đúc thành Tứ đại khí tức là chuông lớn, tượng lớn, tháp lớn và vạc lớn. Chuông lớn vừa đúc xong, chỉ mới thỉnh nhẹ một tiếng mà âm thanh đã vang sang đến tận Trung Quốc. Tiếng ngân kỳ lạ của chuông lớn khiến cho những con trâu bằng vàng, để trong kho báu của Hoàng Đế Trung Quốc tưởng là tiếng trâu mẹ gọi, liền chạy lồng sang nước ta. Chúng chạy quanh mãi ở Thăng Long mà tìm vẫn không thấy mẹ, và dấu vết những bước chân của đàn trâu vàng đi tìm mẹ ấy chính là Hồ Tây ở Hà Nội ngày nay. Tác giả của Tứ đại khí – Sư Khổng Lồ được tôn là tổ sư của nghề đúc đồng ở nước ta. Nhân vật của truyền thuyết dân gian này đã được lịch sử hóa. Thi thoảng đó đây cũng có những tấm văn bia để ở một số chùa chiền đã gộp sự tích của Dương Không Lộ, Nguyễn Minh Không và Sư Khổng Lồ vào làm một. Thực ra tứ đại khí ở nước ta được chế tạo ở những niên đại rất khác nhau. Đại để, xin tóm lược như sau: Đại khí thứ nhất là chuông lớn, tức là chuông Quy Điền. Chuông này được đúc vào năm 1101, đời vua Lý Nhân Tông. Chuông đúc xong, đánh không kêu, vì thế, bị bỏ ở một thửa ruộng nằm cạnh chùa Một Cột – Hà Nội. Thửa ruộng này rất lắm rùa, cho nên mới có tên chữ là Quy Điền. Chuông bỏ ở ruộng Quy Điền nên mới có tên là chuông Quy Điền.
Đại khí thứ hai là tượng lớn. Tượng này để ở chùa Quỳnh Lâm thuộc Quảng Ninh. Theo văn bia của chính chùa này thì tượng được đúc vào cuối thời Lý, thì tượng cao đến sáu trượng khoảng 20 mét. Nếu văn bia chép đúng thì rõ ràng, tượng chùa Quỳnh Lâm thuộc vào hàng lớn nhất của thế giới về tượng đồng.
Đại khí thứ ba là tháp lớn đó là tháp Báo Thiên, xây vào năm 1057, đời vua Lý Thánh Tông. Tháp này cao 20 trượng tức khoảng 70 mét và những tầng trên của tháp đều được đúc bằng đồng. Tháp Báo Thiên có tên gọi đầy đủ là Đại Thắng Tư Thiên bảo Tháp, nằm trong khuôn viên của chùa Sùng Khánh thuộc Thăng Long.
Đại khí thứ tư là vạc lớn: Vạc này để ở chùa Phổ Minh nay thuộc Nam Hà nên vẫn thường được gọi là vạc Phổ Minh, được đúc vào thời Trần Nhân Tông. Truyền thuyết kể rằng, miệng vạc rộng đến nỗi hai người có thể chạy mà đuổi nhau ở trên đó. Trong suốt hai mươi năm đầu thế kỷ 15 từ năm 1407 đến năm 1427, nước ta bị quân Minh đô hộ. Một trong những tội ác không thể nào dung tha của giặc lúc này là đã đem tứ đại khí nấu chảy để lấy đông đúc vũ khí đi đàn áp nhân dân ta.
Nguyễn Khắc Thuần- Trí Thức Trẻ – số 20 – tháng 2 – 1997.

Tắm hơi ảnh hưởng tới việc sinh đẻ

Mùa đông giá lạnh được tắm bằng hơi nóng thì thật không có gì thú vị bằng. Chính vì vậy ở nhiều nước phương Tây đã sinh ra một lớp người coi tăm hơi như là một thú đam mê. Thế nhưng gần đây các nhà bác học Tây Ban Nha lại đưa ra một tin không lấy làm gì dễ chịu đối với những người mê tắm hơi: việc tắm hơi có thể có những ảnh hưởng tiêu cực tới việc sinh con đẻ cái. Bác sĩ chuyên khoa tiết niệu ở Madrid Fernando Crus theo dõi và nghiên cứu nhiều bệnh nhân có vấn đề về chức năng sinh đẻ đã tìm ra được nguyên nhân là do quá đam mê tắm hơi. Theo bác sĩ F. Crus thì lần đầu tiên ông để ý tới điều này khi nghiên cứu, xem xét chồng của một phụ nữ một thời gian dài không có con. Cuối cùng ông đã phát hiện ra rằng sức nóng của các nhà tắm hơi đã làm cho người đàn ông này giảm đáng kể số lượng cũng như chất lượng tinh trùng của anh ta. Thậm chí nó còn dẫn đến sự sai lệch về gen của những cơ thể hài nhi tương lai. Còn phụ nữ ưa thích và thường xuyên tắm hơi sẽ bị hành kinh kéo dài và kinh nguyệt ra nhiều. Còn bác sĩ phụ khoa Alonso Vidal thì cho rằng hơi nóng cao trong các nhà tắm hơi làm gián đoạn các quá trình rụng trứng trong cơ thể người phụ nữ. Các công trình nghiên cứu khoa học ở Mỹ gần đây cũng cho thấy rằng trẻ sơ sinh của các bà mẹ trong thời kỳ có mang hay đến các nhà tắm hơi thường bị mắc các bệnh đường tiêu hóa nhiều gấp đôi trẻ em bình thường do cơ thể bé bị tác động của nhiệt độ cao khi còn trong bụng mẹ. Ở phương Tây những người si mê tắm hơi thường là những người béo và luôn lo giữ co người của mình. Song họ không biết rằng khi tắm hơi số lượng nước trong cơ thể bốc hơi nhanh, trọng lượng có thể giảm đi, nhưng chúng lại nhanh chóng được phục hồi. Khi tấm hơi, cơ thể ra rất nhiều mồ hôi để giữ cho mình ở trạng thái cân bằng. Song khi ở lâu trong tình trạng quá nóng quá trình ra mồ hoi bị rối loạn thậm chí cơ thể ra mồi hôi rất nhiều mà vẫn không giữ được cân bằng. Đồng thời với mồ hôi toát ra cơ thể bị mất rất nhiều muốn dẫn đến sự mất cân bằng cả nước lẫn muối. Trong tình trạng đó bắt đầu có những thay đổi trong các tế bào, mà tế bào sinh dục dễ bị tổn thương nhất. Ngoài ra các nhà khoa học còn phát hiện thấy tình trạng xuất hiện các cục máu đông khi người ta lắm lâu trong nhà tắm hơi. Đây là những bước đầu tiên gây ra tình trạng bị tắc mạch máu trong cơ thể. Ở châu u và các nước tiên tiến khác người ta đã nghiên cứu các nhà tắm hơi có các chế độ nhiệt độ khác nhau: đầu tiên phải để nhiệt độ ở 28 độ C, sau đó chuyển sang nhiệt độ là 45 độ C và dần dần tăng lên 60 độ C. Thay vào việc sau khi tắm hơi tắm luôn nước lạnh, người ta áp dụng một chế độ làm lạnh dần cơ thể cùng với các hoạt động xoa bóp. Trong các nhà tắm như vậy người tắm sẽ không gặp phải bất kỳ một nguy hiểm nào đối với mình và với con cái tương lai. Ở phía bên trái của Orion có chòm sao Tiểu cẩu với ngôi sao sáng Proxion ngôi sao mọc sớm hơn Sirius và chòm sao Đại Cẩu với ngôi sao sáng nhất trong tất cả các ngôi sao mà có thể quan sát trên bầu trời của chúng ta Sirius ngôi sao Chó. Sirius không chỉ là ngôi sao sáng nhất, mà còn rất gần gũi với chúng ta. Tia sáng của Sirius bay đến chúng ta chỉ có trong 9 năm. Tiếc rằng Sirius xuất hiện trên bầu trời của chúng ta chỉ có vào mùa đông và không lên cao lắm ở phía trên của chân trời. Nhưng không thể không nhận thấy hòn ngọc sáng lấp lánh này của bầu trời sao! Rất có thể Sirius sẽ trở thành một trong những ngôi sao yêu thích nhất của các bạn. Sirius xuất hiện trên bầu trời vào mùa nóng nhất của năm (tháng bảy, tháng tám), khi không thể làm việc vì nóng bức. Mong các bạn hãy ngắm những chòm sao đẹp nhất của bầu trời mùa đông và có được những giây phúc thú vị. Những ngôi sao này nhắc nhở chúng ta câu chuyện truyền thuyết về hai anh em sinh đôi luôn luôn chung thủy và trung thành với nhau. Ngôi sao Castor là một trong những ngôi sao thú vị nhất trên bầu trời. Đôi khi người ta gọi nó là mặt trời bội số sáu. Đó là bởi vì qua kính viễn vọng Castor nhìn như ngôi sao có ba phần. Còn những khảo sát tinh vi nhất chỉ rõ ràng mỗi ngôi sao trong đó là một cặp đôi rất chặt chẽ. Có nghĩa là ở đó tất cả có sáu ngôi sao. Nếu trong hệ thống sao dù chỉ có một hành tinh có người có thì họ ngắm nghía bầu trời mà trên đó lập tức có mấy mặt trời chiếu sáng. Chàng thợ săn Orion, tất nhiên, có những con chó, và chúng cũng lao lên bầu trời. Khi các bạn ngắm nghía Capella, hãy nghĩ rằng Mặt trời của chúng ta rất giống ngôi sao này và từ vũ trụ xa xăm nom có vẻ cũng như nó. Ở phía trái và cao hơn Orion là chòm sao Song nhi có những ngôi sao sáng của mình là Castor và Pollucs.
(Theo ngọn lửa nhỏ tháng 12 năm 1996)
ĐT- Trí Thức Trẻ – số 19 – tháng 1 – 1997.

Máy tính và tivi đã là một

Hiện nay bạn đã có thể ngồi thoải mái trước máy thu hình ở nhà, vừa xem truyền hình vừa đồng thời truy cập vào mạng internet hoặc làm việc với máy tính. Đó là một thiết bị giải trí ở nhà kết hợp được cả truyền hình và máy tính làm một. Một thiết bị hứa hẹn đón nhận nồng nhiệt của công chúng trong thời đại tin học này. Một mẫu sắp tới đây sẽ là tổ hợp của các tính năng truyền hình, máy tính và chức năng truy nhập mạng internet có sẵn. Những người hâm một internet sẽ có thể ngả người trên ni văng xem truyền hình và dùng loại bàn phím không dây nối với thiết bị PC/TV thiết bị bao gồm cả chức năng truyền hình và máy tính để truy nhập vào internet thay vì từ một máy tính nghiêm chỉnh và gò bó như hiện nay. Còn đối với những người có hội chứng sợ máy vi tính thì đây sẽ là một cơ hội tiếp cận chúng một cách thân thiện và tiện lợi hơn rất nhiều. Tháng 4 vừa qua, tại Mỹ công ty chế tạo máy tính Gateway 2000 đã giới thiệu sản phẩm PC/TV của mình dưới tên Destination, một sản phẩm bao gồm chức năng máy tính và màn hình truyền hình cỡ lớn. Sản phẩm này sẽ được bán tại châu Á vào giữa năm tới. Destination có một màn hình 79 cm và bộ vi xử lý pentium tốc độ cao, được bán với giá là 5 nghìn đô la tại Mỹ hồi tháng 4, có hiện nay giá của nó đã giảm xuống ở mức dưới 3 nghìn đô la và có thể còn giảm nữa. Destination thực sự là một máy vi tính Pentium với chức năng truyền hình và âm thanh stereo. Chỉ cần một nút bấm điều khiển từ xa, người xem có thể chuyển qua lại giữa hai chế độ truyền hình và máy tính. Jim Taylor phó chủ tịch của Gateway phụ trách tiếp thị toàn cầu nói: “Đây sẽ là một hộp giải trí của tương lai. Bạn sẽ có được một hệ thống stereo và hình ảnh… Bạn có thể sử dụng đĩa hình với âm thanh surround. Bạn có thể tổng hợp tất cả các tính năng giải trí gia đình trong cùng một hộp, đồng thời vẫn truy cập được vào internet. Người Nhật cũng đã chọn cho mình những thiết bị như vậy. Tháng 10 vừa qua, Công ty Sharp đã tuyên bố sự ra đời của internet truyền hình có tên Network Vision, một truyền hình với chức năng truy cập internet có sẵn với giá 2970 đô la. Công ty Sony cũng cho ra đời một thiết bị đầu cuối của mạng internet, cho phép kết nối với truyền hình thông thường, được sản xuất dưới giấy phép của Silion Valey dựa trên cơ sở của Web truyền hình với giá 350 đô la tại Mỹ. Đồng thời Sony cũng đã giới thiệu hai mẫu internet truyền hình tại thị trường Nhật với giá là 1784 đô la Mỹ cho loại màn hình 71 cm và 1036 đô la cho loại màn hình 53 cm. Cả hai mẫu này đều có sẵn trình duyệt internet có tên Sannet. Toàn bộ các máy trên đều có một màn hình với nhiều cửa sổ cho phép người xem sử dụng internet trong khi vẫn đang theo dõi chương trình tivi. Theo lý thuyết, những người hâm mộ thể thao có thể vừa theo dõi trận đấu vừa gửi các thông điệp của mình đến các trạng của đội mình hâm mộ trên internet, hoặc gào thét với các cổ động viên khác trong quá trình diễn ra trận đấu thông qua tính năng internet có sẵn trên máy. Các internet truyền hình nói chung đều có phần cứng và phần mềm nối sẵn với các nhà phân phối dịch vụ internet. Trong khi các PC/TV mềm dẻo hơn dành quyền chọn nhà cung cấp dịch vụ cho khách hàng tùy nhọn. Việc truy cập từ các thiết bị này thường dễ dàng hơn so với từ máy tính. Ví dụ như trường hợp của hộp Sony Web truyền hình cho phép người sử dụng chỉ cần bấm một nút từ bộ điều khiển từ xa để truy cập internet hay tính năng thư tín điện tử. Với loại hộp đầu cuối của Sony hay các internet truyền hình, xem ra có vẻ hợp với túi tiền của người sử dụng. Song chúng còn tồn tại những nhược điểm như đối với hộp đầu cuối thì một màn hình truyền hình bình thường, sẽ không cho phép bạn có thể xem được các hình ảnh từ máy tính qua mạng internet. Tuy nhiên, các nhà sản xuất internet truyền hình đã nhìn thấy rất nhiều những ưu điểm của loại thiết bị mới này hơn là những nhược điểm của chúng. John Briesch, chủ tịch phụ trách nhóm khách hàng của Sony tại Mỹ nói về các hộp thiết bị đầu cuối internet như sau Chúng đã cung cấp một cơ hội lớn cho hàng triệu gia đình không có máy tính vẫn có thể kết nối được với internet, gửi thư điện tử cho bạn bè và họ hàng, lập kế hoạch đi nghỉ với nhau hay xem giới thiệu các bộ phim sắp chiếu… Tóm lại toàn bộ internet đã ở trước mặt màn hình truyền hình của họ. Công ty Apple, nhà sản xuất thu lợi nhuận quan trọng từ xuất khẩu máy tính sang Nhật Bản bị khủng hoảng nặng nề. Đối với các đối thủ Nhật Bản của Fujitssu, đó là một bài học đau đớn nhưng rất giá trị. Phù hợp với chíp Intel, lượng PC bán ở Nhật tăng hàng năm khoảng 50%, từ 5 triệu đô la Mỹ lên tới 10 triệu đô la Mỹ trong năm 1995.
Nguyễn Việt Hùng- Trí Thức Trẻ – số 19 – tháng 1 – 1997.

Nhà máy điện nguyên tử

Những năm gần đây, châu Á với hơn 60% dân số thế giới nói chung và Đông Nam Á nói riêng được đánh giá là vùng có tăng trưởng kinh tế mạnh nhất thế giới. Việc xây dựng và chuẩn bị xây dựng điện nguyên tử ở các nước chung quanh ta cho thấy xu thế giải quyết bài toán năng lượng bằng năng lượng hạt nhân là xu thế đúng đắn trong tương lai. Chúng ta ngày càng nhận thấy sự phát triển điện năng ở nước ta vẫn chưa đi kịp chưa nói là điện năng phải đi trước một bước với sự phát triển năng động của nền kinh tế, điều đó cùng với tình hình phát triển năng động của nền kinh tế, điều đó cùng với tình hình phát triển điện nguyên tử trong khu vực đang tạo ra một sức ép rất lớn đối với việc hoạch định một chương trình hạt nhân khả thi cho Việt Nam. Trung Quốc đã xây dựng nhà máy nguyên tử công suất là 300 MW bắt đầu chạy từ năm 1992 đang chuẩn bị xây 2 nhà máy với công suất là 2 x 600 MW và sẽ xây dựng 2 nhà máy ở vịnh Đại Á công suất 2 x 1000 MW do Pháp cung cấp. Một hiệp định khác được ký với Nga xây hai nhà máy công suất là 2 x 350 MW. Rõ ràng Trung Quốc đã đưa điện nguyên tử vào chiến lược năng lượng của mình. Một lãnh thổ nhỏ như Đài Loan cũng đã có tới 6 nhà máy điện nguyên tử với tổng công suất là 4890 Mwe và đến năm 2000 sẽ có thêm 2 nhà máy với công suất là 2 x 1000 Mwe nữa đi vào hoạt động. Khác với Trung Quốc, Ấn Độ đi theo chính sách hạt nhân tự lực, nghĩa là tự nghiên cứu thiết kế lấy nhà máy điện nguyên tử với sự hỗ trợ của chuyên gia nước ngoài. Ấn Độ đã có chương trình hạt nhân từ năm 1949, họ có một trữ lượng Thoonium lớn có thể dùng làm nhiên liệu hạt nhân. Hiện nay nhà máy Kakrapar 1 là tổ máy số 10 đang hoạt động tổng công suất điện nguyên tử là 2603 Mwe chiếm tỷ lệ là 3,3%. Ấn Độ có nhà máy sản xuất nước nặng nên đi theo hướng chế tạo các nhà máy điện nguyên tử chạy bằng Uranium thiên nhiên. Parkistan có nhà máy điện nguyên tử loại nước nặng với công suất là 125 Mwe đã hoạt động được 20 năm nay. Năm 1993 nước này mua thêm một tổ máy của Trung Quốc công suất là 300 Mwe và có thể còn mua thêm một tổ máy loại này nữa, họ sản xuất là 1,5% điện năng là Hà Nội. Thái Lan đã có dự án cho 6 LPU với tổng công suất là 6 nghìn Mwe, hai tổ máy đầu tiên sẽ phát điện vào năm 2006. Các nước khác quanh ta như Indonexia, Malaysia cũng đều đã có luận chứng khả thi cho việc điện nguyên tử vào nền kinh tế của mình. Philippines đã xây dựng một nhà máy điện nguyên tử, hoàn thành năm 1986 song vì một số lý do nên chưa hoạt động, song theo nguồn tin của phủ tổng thống Philippines sẽ phải xây dựng nhiều nhà máy điện nguyên tử để giải quyết vấn đề thiếu hụt năng lượng của đất nước trong một chương trình hạt nhân dài hạn. Trong khu vực quanh ta Hàn Quốc đã trở thành một nước có chính sách hạt nhân đúng đắn và đáng tin cậy, lại có nhiều điểm tương đồng với ta nên đáng để cho ta tham khảo trong việc hoạch định một chương trình hạt nhân thích hợp. Từ năm 1971 Hàn Quốc đã khởi công xây dựng tổ máy đầu tiên với công suất là 587 Mwe và dự tính đến năm 2006 sẽ có 27 nhà máy điện nguyên tử. Để trả lời câu hỏi liệu có cần thiết và khi nào phải đưa điện nguyên tử vào nước ta các chuyên gia năng lượng nói chung và chuyên gia năng lượng nguyên tử nói riêng đã phải giải quyết bài toán quy hoạch điện nặng theo kế hoạch phát triển kinh tế của đất nước với tốc độ tăng trưởng GDP đã được Đại hội VIII Đảng Cộng sản Việt Nam vạch ra đến năm 2000 và 2020. Họ phải đưa lên bàn cân dùng các chương trình tính toán khá phức tạp mọi khả năng phát triển cho phép của nhiệt điện than, nhiệt điện khí và thủy điện để đưa ra một vài phương án khả dĩ khác nhau trong việc bổ sung phần điện năng thiếu hụt bằng năng lượng hạt nhân. Muốn xây dựng một nhà máy điện nguyên tử có công suất là 1 nghìn Mwe cũng phải tốn cỡ 2,5 tỷ đô la Mỹ. Theo các chuyên gia năng lượng đầu ngành thì để đáp ứng được nhu cầu điện năng cho phát triển kinh tế nước ta như tốc độ hiện nay, đến khoảng năm 2010 đến năm 2015 đã phải đưa tổ máy điện nguyên tử đầu tiên vào hoạt động. Do đặc thù của công nghiệp điện nguyên tử thời gian gần 20 năm tới cũng chẳng phải là một khoảng thời gian lớn để tiến hành các việc cần thiết cho việc đưa điện nguyên tử vào nước ta. Điều làm cho nhiều người lo ngại đi đến do dự trong việc sử dụng năng lượng nguyên tử là vấn đề an toàn, an toàn trong vận hành để tránh mọi rủi ro và an toàn cho môi trường tránh cho môi trường bị ô nhiễm. Năng lượng nguyên tử tác động đến môi trường ở mức độ thấp hơn nhiều so với các loại nhà máy điện khác, không gây ra hiệu ứng nhà kính và các tác động khác tới sức khỏe con người. Sau sự cố Chernobyl các nhà khoa học và công nghệ Hà Nội càng nỗ lực hơn trong việc tạo ra các thế hệ LPUHN mới có tốc độ an toàn cao. Hy vọng đến khi nước ta nhập nhà máy điện nguyên tử công nghệ LPU sẽ cho ra đời các nhà máy gần như tuyệt đối an toàn và đó cũng là tình huống thuận lợi cho các nước đang phát triển, thừa hưởng thành tựu mới của trí tuệ loài người.
Đoàn Cao- Trí Thức Trẻ – số 19 – tháng 1 – 1997.