Monthly Archives: May 2016

Mẹ cho não, bố cho xương

Kết quả các công trình nghiên cứu 10 năm qua đã khám phá ra nguyên tắc kế thừa gen những đơn vị di truyền từ bố, mẹ và cho thấy vai trò mang tính quyết định của tập hơn gen mẹ trong sự phát triển nòi giống. Cho dù bào thai kế thừa số lượng bằng nhau các sắc tố thành phần nhân tế bào đóng vai trò động lực cho gen của bố và mẹ, những gen kể trên lưu giữ trí nhớ thành phần xuất thân của mình, nhưng không đóng vai trò như nhau đối với sự phát triển của bào thai. Thường chỉ một trong hai gen chịu trách nhiệm di truyền chứng tỏ tính tích cực trong bào thai, còn gen thứ hai thì tự giấu mình hiện tượng này được gọi là sự lặn gen. Gen tích cực di truyền sang những bộ phận tiếp theo của tế bào trong bào thai, còn những gen giấu mình có thể thể hiện vai trò trong những thế hệ sau nữa thí dụ như đời cháu, chắt…. Vai trò khác nhau của gen từ bố và mẹ đối với quá trình phát triển bào thai đã được phát hiện trong các thí nghiệm thực hiện trên các bào thai chuột thí nghiệm với nguyên liệu gen độc nhất của chuột mẹ. Té ra, nguyên liệu gen của mẹ là cần thiết và đủ để xuất hiện bào thai. Độc nhất bào thai xuất thân từ gen mẹ phát triển hoàn toàn bình thường đến giai đoạn nhất định, nhưng sau đó nó tử vong vì sự hình thành thiếu hụt. Trái lại với nguyên liệu đối chứng độc nhất từ gen bố thực ra không hề xuất hiện bào thai với đúng nghĩa của nó, trong khi bộ khung và những thiết bị bên ngoài bào thai lại hình thành một cách hoàn hảo. Những nghiên cứu khác thực hiện với bào thai có gen của cả chuột mẹ và chuột bố cho thấy gen chuột bố chủ yếu đóng vai trò quyết định đối với quá trình phát triển các cơ quan như xương sống, cơ bắp, thận hay gan, trái lại gen từ chuột mẹ đảm đương gần như độc nhất quá trình hình thành não, da bọc và các cơ quan cảm xúc.
Sự đối đầu hợp lý?
Dưới nhiều phương diện, gen bố và mẹ tác động trái ngược đối với sự phát triển của nòi giống. Gen bố làm tăng kích thước cơ thể và khả năng thể lực còn gen mẹ, hạn chế kích thước và tính năng động. Đây là điều hoàn toàn hợp lý, về mặt sinh học, khi bào thai phát triển phải ganh đua cả với cơ thể mẹ cũng như những đứa con tương lai về điều kiện sống, việc nuôi dưỡng thai nhi quá to sẽ ảnh hưởng tiêu cực tới cơ thể mẹ. Trái lại, nguyên liệu di truyền từ bố dường như lại quá ích kỷ, chỉ lo sao có kích thước tối đa, bởi càng lớn, bào thai càng có cơ may sống còn. Cụ thể với bào thai chuột thí nghiệm, sắc tố di truyền của mẹ mang số 11 sẽ dẫn đến việc làm nhỏ kích thước chuột con, trái lại sắc tố 11 của chuột bố làm tăng kích thước chuột con. Tương tự, sắc tố 2 chuột mẹ hạn chế khả năng hoạt bát chuột con, sắc tố 2 chuột bó tăng cường khả năng ấy. Phải chăng đó mầm móng cuộc chiến hai giới?. Kết quả những nghiên cứu di truyền chứng tỏ rằng, đối với động vật có vú, thế hệ con kế thừa độc nhất hoặc chủ yếu của mẹ gen đảm nhiệm việc hình thành bộ não, còn của bố ở mức độ lớn gen đảm nhiệm về kích cỡ và hình hài cơ thể. Vai trò chỉ đạo của gen mẹ trong việc khẳng định và phát triển nòi giống cũng xuất phát từ bản chất di truyền trong cấu trúc giới tính nữ vốn tiềm ẩn trong sắc tố. Nhân tố nam chỉ có một sắc tố X kế thừa của mẹ, một từ bà nội chuyển giao cho bố. Một trong hai sắc tố X một phần ẩn mình trong bào thai nữ giới. Tạo hóa, sắc tố X chứa đựng trong mình số lượng khổng lồ, nếu so sánh với sắc tố khác, đội quân gen đảm trách việc tạo dựng bộ não. Sự rối loạn những gen này là nguyên nhân dẫn đến nhiều bệnh tâm thần và thần kinh, nhiều dạng thiểu năng trí tuệ, biến dạng não, tê liệt một số dạng mù và câm, bệnh Parkinson và nhiều loại bệnh khác.
Vinh Thu – Trí Thức Trẻ – số 9 – tháng 3 – 1996.

Nuôi con bằng âm nhạc

Đó là ứng dụng đang được triển khai ở Bệnh viện Waldkrankenhaus (Beclin – Cộng Hòa Liên bang Đức). Tri thức trẻ xin trích đăng nội dung cuộc trò chuyện thú vị với giáo sư Tiến sĩ H. Schachinger, tác giả công trình khoa học này. Nghe nói, với trẻ sơ sinh, nhất là đối tượng thiếu cân, đẻ non… thức ăn đầu tiên và thường xuyên nhất mà giáo sư áp dụng đối với chúng là âm nhạc?
Đúng thế, bởi thực tế, đứa trẻ, ngay khi trong thời gian còn là thai nhi, lúc nằm trong bụng mẹ, nó không chỉ nghe nhịp đập của trái tim và những tiếng động phát ra từ các cơ quan trong ổ bụng người mẹ, mà nó thu nhận cả các tín hiệu từ thế giới bên ngoài. Thế nên, khi ra khỏi bụng mẹ, trẻ sơ sinh bỗng chốc bị tước đoạt bộ phận đáng kể những cảm xúc vốn quen thuộc nhất là với những đối tượng phải cách ly dài ngày, trong lồng kính, vì đẻ non. Thay vào đó là những âm thanh, tiếng đọng xa lạ, khó chịu liên quan đến những hoạt động bảo vệ sức khỏe ban đầu như cắt rốn, tiêm chủng, làm thuốc… Sẽ tốt hơn nhiều cho đứa trẻ, nếu ngay thời điểm chào đời, nó được nghe những bản nhạc du dương, êm ái càng thú vị, khi đó là chính tác phẩm quen biết, mà trước đó nhiều ngày, chúng đã nghe, lúc còn nằm trong bụng mẹ, cùng tiếng nói của mẹ và những thành viên khác trong đại gia đình.
Giáo sư có thể cung cấp chứng cớ khẳng định hiệu quả phương pháp nuôi con bằng âm nhạc?
Một khi được nghe nhạc và những âm thanh quen thuộc, phản ứng tích cực của đứa trẻ có thể dễ dàng nhận thấy trên nét mặt, nó bú sữa ngon lành hơn, nhịp tim, nhịp thở đều, mạnh hơn. Thế nên, sẽ sai lầm hoàn toàn khi cho rằng trẻ sơ sinh như tờ giấy trắng. Thực ra ngay lúc chào đời, nó mang theo dự trữ vốn sống khá là phong phú, trong đó có cả âm thanh từ giai đoạn sống trong bụng mẹ. Vì vậy đứa trẻ có cảm giác an toàn, nếu có được nghe lại thế giới âm thanh đó, lúc ở trong lồng kính.
Tại phòng đẻ, trong phòng ở bệnh nhân cũng như tại các phòng lồng kính nuôi trẻ tại cơ sở của giáo sư, nơi nào cũng đầy ắp âm nhạc…?
Chúng tôi coi như một món ăn hàng ngày. Nhạc được mở ngay từ lúc người mẹ tương lai ghi tên vào viện, trong cơn đau đẻ và tất nhiên suốt thời gian đứa trẻ lưu viện. Những đứa trẻ như kết quả nghiên cứu từ năm 1990, khẳng định được nghe nhạc cổ điển, lúc nằm trong lòng kính, học rất nhanh kỹ thuật hô hấp hợp lý, ngũ đầy giấc hơn và ít giấc ngủ chập chờn so với trẻ nhóm đối tượng.
Trong nhóm thức ăn âm nhạc cho trẻ so sinh, giáo sư thường áp dụng những tác phẩm âm nhạc cổ điển như Vivaldi, Mozart… cũng như nhạc điện tử. Với nhạc rốc, tác dụng sẽ như thế nào?
Con người có cảm xúc nhịp điệu bẩm sinh nhưng đồng thời cũng có nhu cầu hài hòa, êm dịu, nhẹ nhàng, yều sốt gây cảm giác an toàn. Kết quả nghiên cứu cho thấy với một số giai điệu mang tính kích động trong nhạc rốc, nhạc jaz và thậm chí cả một số tác phẩm cổ điển, trẻ sơ sinh có phản ứng tích cực như sợ hãi, hoảng loạn, bực bội.. Nhà soạn nhạc hiện đại Đức Peter Hubner cộng tác với các bác sĩ và các nhà khoa học trong việc lựa chọn tác phẩm nhạc điện tử thích hợp. Gần đây, theo sáng kiến của tác giả này cùng các nhà khoa học Đức và Bi – ê – la – rút, một chương trình âm nhạc đặc biệt đã được soạn thảo để điều trị cho các nạn nhân sự cố rò rỉ hạt nhân Tréc – nô – bưn.
BS Như Thọ – Trí Thức Trẻ – số 9 – tháng 3 – 1996.

Dùng Erection thế nào cho đúng

Kính gửi Công đoàn Công ty Lắp máy số 18 thuộc Bộ Xây dựng. Kinh nghiệm của những người đi trước cho thấy rằng ngoại ngữ dễ phản lại người dùng, nếu không cảnh giác, nhất là với những từ đa nghĩa. Ngay trong bản sao tư liệu của Anh mà các đồng chí gửi kèm thư, hai từ fabrication và erection nếu trong đó, các đồng chí mới chú ý đến nghĩa của các từ ấy theo ngành chuyên môn của xây dựng mà không để ý đến những nghĩa khác của nó. Từ erection chúng ta sẽ bàn sau, ngay từ fadrication bên cạnh nghĩa chế tạo, còn có nghĩa xấu là bịa đặt, lừa gạt. Xin tra từ điển Webste’s:
Chắc chắn các đồng chí đã dịch và hiểu nhiều hết các nghĩa của các từ ấy thế nào, ngành lắp ráp chỉ nằm trong có một phần của nghĩa thứ nhất của từ này, còn đều có nghĩa là lừa gạt. Cho nên, khi dùng ngoại ngữ, chúng tôi thường nhắc nhau nhớ đến câu ngạn ngữ Ý đã có từ xa xưa là Traduttori traditori tiếng anh dịch là translators are traitors và tiếng Pháp dịch là Traduire csest trahir dịch là phản đó. Cũng may là những trường hợp đó không phải bao giờ cũng xảy ra. Trở lại nội dung bức thư của các đồng chí, tôi xin trả lời:
Về từ erection, như trong bài đã nói rõ đó là một từ đa nghĩa, cả nghĩa thanh lẫn nghĩa tục, cả nghĩa kỹ thuật, khoa học, văn học. Bên cạnh nghĩa kỹ thuật sự dựng lên, sự xây dựng, sự lắp ghép, lắp ráp còn nghĩa văn học là thiết lập, tạo dựng và nghĩa sinh lý học là sự cương, trạng thái cương. Các đồng chí thấy rõ trong các Từ điển Anh – Việt của nhà xuất bản Khoa học xã hội năm 1975, trang 552, hoặc Nhà xuất bản Chính trị quốc gia năm 1993, trang 666 đến 667 và trong từ điển Pháp – Việt của Ủy ban khoa học xã hội phối hợp với ACCT năm 1981 trang 437. Tôi đang có dưới tay những từ điển bách khoa của nước ngoài có uy tín và rất đáng tin cậy, như Đại từ điển Bách khoa của Pháp: Encyclopaedia Universalis quyển 10, trang 256 chỉ giải thích từ erection với nghĩa sinh lý học. hay Grand Larousse Encyclope quyển 4, vần E, giải nghĩa rất ngắn về kỹ thuật và văn học mà tập trung vào nghĩa sinh lý học, đến các bách khoa học từ điển lớn của Anh, Mỹ như The New Encyclopedia Britanica quyển 4, trang 538, cũng dành duy nhất cho nghĩa sinh lý học Erection, also called penile erection, enlargment, hardening and elevation of the male reproductive organ, the penis, hay quyển Webter’s giải thích ba nghĩa như đã nói ở trên, và nhắc đến các từ đồng nghĩa thông dụng building, construction, assembly… Một từ điển Dictionary of the English Language 1992 trang 623 cũng giải thích Erection: Tôi muốn đặc biệt lưu ý các đồng chí tham khảo từ điển bách khoa Oxford Illustrated Encyclopedia năm 1993, gồm nhiều quyển chuyên ngành, trong đó quyển 6 chuyên về Invention and Technology sáng chế và công nghệ, không có mục từ erection mà dành hơn hai trang cho Building Techniques, nêu lên đầy đủ những tiến bộ trong kỹ thuật xây dựng từ thời cổ đại đến ngày nay, trong đó chủ yếu dùng các từ construct, build, assembly, mà tuyệt nhiên không thấy dùng đến từ erect hoặc erection. Có thể không phải họ không biết đến các từ đó. Tóm lại các từ điển Pháp, Anh, Mỹ thường dẫn ra những từ đồng nghĩa với erection dùng trong xây dựng như construction, building, fabrication, assemblage… Có thể họ muốn ta tránh hiểu lẫn với nghĩa sinh học của từ erection. Đặc biệt là người ta tránh dùng từ erection đứng một mình, mà thường có từ bổ ngữ trước hoặc sau bổ ngữ mục đích hay bổ ngữ nội dung. Ví dụ như tên của Công ty các đồng chí là lắp máy thì người ta có thể dịch là Mechanical Erection Company, hoặc erection tower giàn giáo… Ngay như tập từ vựng Anh – hán dùng trong ngành xây dựng mà các đồng chí gửi cho chúng tôi, thì từ erection chữ Hán là trang phối, an trang, nhưng nói chung đều đi liền với một bổ ngữ erection bolt trang phối loa xuyên, erection drawing (trang phối đồ)… Khi có khách hàng đến công ty các đồng chí, nhất là người khách đó là nữ giới, mà các đồng chí lại hỏi người ta là Have an erection? Thì xin các đồng chí giở trang 667 Từ điển Anh – Việt, sẽ hiểu tại sao họ lại lúng túng và đỏ mặt… giả sử các đồng chí đăng quảng cáo đó trên một tờ báo chuyên ngành thì người ta còn hiểu được. Đằng này lại đăng ở một tạp chí của Đảng, phát hành rộng rãi, thì sao tránh được sự hiểu chệch theo những nghĩa không chuyên ngành. Việc đặt tên thế nào là quyền của mỗi cá nhân hay mỗi pháp nhân. Tin rằng các đồng chí đã cân nhắc và tham khảo kỹ khi dùng tiếng nước ngoài để dịch tên công ty các đồng chí. Song như trên đã trình bày, tiếng nước ngoài cũng như tiếng nước ta đều rất ngoắt ngoéo, người nước khác rất khó mà nói rằng đã nắm được mọi khía cạnh ngữ nghĩa của tiếng nước họ. Tên tiếng việt của cơ quan các đồng chí là Công ty Lắp máy số 18, chứ không chỉ là Công ty lắp ráp số 18. Nếu các đồng chí thích dùng từ Erection thì, theo thiển ý, ít nhất ta cũng thêm vào đó một bổ ngữ, như trên đã nêu: Mechanical Erection company 18 chẳng hạn thì không ai còn có thể hiểu sai lệch sang nghĩa khác thuộc sinh lý học. Nếu các đồng chí lại dùng các từ đồng nghĩa khác thì càng làm rõ được chức năng của công ty các đồng chí hơn. Được biết, hồi Pháp thuộc ở Hải Phòng có nhà máy Caron, họ gọi là Construction mecanique. Không biết như thế có hợp với công ty các đồng chí không, xin các đồng chí tham khảo.
Kính thư.
Hoàng Phong – Trí Thức Trẻ – số 9 – tháng 3 – 1996.