Monthly Archives: March 2016

Tri Thức Trẻ thách thức mới – Phần 2

Chúng ta muốn mau chóng trở thành một nước công nghiệp, muốn tiến lên phía trước, muốn hòa nhập vào thế giới phát triển, vì thế Đảng luôn coi giáo dục và đào tạo nhân lực, nhân tài là quốc sách hàng đầu. Từ đó gây nên tình trạng hẫng hụt cán bộ khoa học kế cận. Đội ngũ trí thức được hình thành và phát triển từ giáo dục và đào tạo. Chính vì vậy Đảng và Chính phủ đã cố gắng lớn nguồn đầu tư tài chính cho giáo dục và đào tạo. Tỷ trọng ngân sách nhà nước chi cho giáo dục – đào tạo tăng hàng năm và tăng nhanh trong những năm gần đây. Tỷ trọng Ngân sách nhà nước chi cho giáo dục và đào tạo tăng từ 5,83% vào năm 1986, với mức chi là 120 tỷ đồng thì đến năm 1990 tăng lên 8% với mức chi là 9.186 tỷ đồng và năm 1996 là 10,08% với mức chi là 70 nghìn tỷ. Mặc dầu vậy, tỷ lệ này còn thấp so với các nước trên thế giới và khu vực là Mỹ 15,5%, Pháp là 12,3%, Singapore là 11,5%, Thái Lan là 20%, Hà Quốc là 16,5%, Hồng Kông là 17,4%, Trung Quốc là 12,8% năm 1990. Vì thế, mặc dầu giáo dục và đào tạo không ngừng phát triển về số lượng và chất lượng học sinh phổ thong cấp 3, năm 1984 đến năm 1985 là 12 triệu, năm 1994 – năm 1995 là 14,5 triệu, sinh viên đại học, năm 1984 đến năm 1985 là 12 triệu, năm 1994 – năm 1995 là 14,5 triệu sinh viên đại học, sinh năm 1984 – năm 1985 là 124 nghìn, năm 1994 – năm 1995 là 367 nghìn… nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu cấp bách của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Cơ cấu nguồn nhân lực của nước ta hiện nay chưa hợp lý là 1 đại học, 1,6 học sinh trung học chuyên nghiệp, 3 công nhân ở các nước trong khu vực tỷ lệ này là 1 đại học, 4 trung học chuyên nghiệp và 10 công nhân. Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo ở nước ta mới chỉ đạt 10% so với tổng số lao động là quá thấp. Nhìn vào độ tuổi của đội ngũ cán bộ giáo dục ở các trường đại học và Cao Đảng ở nước ta là sự già hóa quá nhanh, có thể dẫn đến sự hụt hẫng của cán bộ giáo dục vào cuối thế kỷ 20, nhất là đội ngũ cán bộ đầu đàn. Theo bao cáo của Bộ giáo dục và đào tạo thì đến năm 2000 số cán bộ đầu đàn có học vị trên đại học sẽ về hưu đến 50%, số thay thế cả về số và chất lượng, chỉ đáp ứng khoảng 30%. Ở Đại học Bách khoa Hà Nội , 100% giáo sư, 83% phó giáo sư, 77% tiến sĩ và 54,4% phó tiến sĩ ở độ tuổi trên 50. Tình trạng này đối với các trung tâm giáo dục và đào tạo khác cũng không có gì sáng sủa cả. giáo dục nước ta đang đứng trước mâu thuẫn, giữa yêu cầu tăng về quy mô, nâng cao chất lượng với sự hạn chế về nguồn lực. Để giải quyết vấn đề đó, Hội nghị lần thứ 2, Ban chấp hành Trung ương Đảng quyết định tăng dần tỷ trọng chi ngân sách cho giáo dục, để đến năm 2000 đạt 15% so với tổng chi cho ngân sách và phải tích cực khai thác các nguồn lực khác ngoài ngân sách để giải phát triển giáo dục. Đồng thời tìm mọi biện pháp, chính sách để củng cố phát triển giáo dục và đào tạo. Qua những phân tích và đánh giá vai trò trí thức và thực trạng đội ngũ hiện tại cho ta nhận xét: Đội ngũ tri thức nhân loại đã làm biến chuyển thế giới chúng ta. Sự xuất hiện và gia tốc của kỷ nguyên thông tin làm cho những khái niệm cũ trong lịch sử, coi đất và đá với những kho tàng quý giá vùi sâu trong lòng nó là các nguồn lực, ngoài ra không còn gì nữa trở nên vô cùng lạc hậu. Ngày nay nguồn lực lớn nhất của đất nước lại nằm ngay trong chúng ta, là sự thông minh tính sáng tạo, khả năng của trí tuệ con người, đó là một nguồn lực tài nguyên đặc biệt. Đất nước ta đang trong gia đoạn cách mạng mới yêu cầu và đòi hỏi đối với vai trò, vị trí và nhiệm vụ của đội ngũ trí thức Việt Nam ngày càng to lớn, hết sức quan trọng. Đội ngũ trí thức Việt Nam ngày càng to lớn , hết sức quan trọng. Đội ngũ trí thức, phải cùng với mọi tầng lớp xã hội đưa giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ trở thành khâu đột phá vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, góp phần xứng đáng vào công cuộc xây dựng nước nhà. Vì Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta luôn luôn coi đội ngũ trí thức là một lực lượng không thể thiếu trong mọi thời kỳ cách mạng, đặc biệt là trong cuộc cách mạng Khoa học và Công nghệ, trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay. Đảng tin cạy và hy vọng ở sự đóng góp đầy hiệu quả của đội ngũ trí thức nước nhà. Phát biểu của đồng chí Tổng Bí thư Đỗ Mười tại hội nghị lần thứ 5 hội đồng Trung ương Liên hiệp các hội khoa học – kỹ thuật Việt Nam.
Phan Xuân Dũng – Trí Thức Trẻ – số 23 – tháng 5 – 1997.

Tri Thức Trẻ thách thức mới – Phần 1

Hiện nay chúng ta đang bước vào thời kỳ phát triển mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phấn đấu đến năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp. Đó là nhiệm vụ hàng đầu, bảo đảm xây dựng thành công Chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Để thực hiện được nhiệm vụ đó. Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã khẳng định: công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước phải bằng và dựa vào khoa học và công nghệ. “Muốn Khoa học và Công nghệ tồn tại phải công tác khoa học công nghệ đấy chính là đội ngũ trí thức Việt Nam. Thế giới đang bước vào ngưỡng cửa của một thời đại mới – thời đại trí tuệ, một nền văn minh mới nền văn minh trí tuệ. Trong nền văn minh trí tuệ, trí tuệ con người đóng vai trò quyết định của sự phát triển, với năng lượng của nền kinh tế là thông tin, nền kinh tế công nghiệp sẽ chuyển thành nền kinh tế thông tin. Kinh nghiệm cho thấy rằng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế ở các nước phát triển, thực chất là thay đổi cơ cấu công nghiệp, dựa trên các ngành công nghệ cao, trong đó những công nghệ cũ, tiêu hao nhiều tài nguyên và lao động, dựa trên nền tảng điện cơ khí được thay đổi bởi những ngành công nghiệp cao cấp, dựa trên nền tảng cơ điện tử, giảm suất tiêu hoa các nguồn lực tính trên một đơn vị tổng sản phẩm nội địa. Ngày nay, vai trò then chốt của khoa học và công nghệ là các ngành công nghệ cao như công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, công nghệ tự động hóa, đã hoàn toàn mang ý nghĩa sống còn đối với sự phát triển kinh tế – xã hội, củng cố an ninh – quốc phòng của mỗi quốc gia và đã đưa lên hàng quốc sách. Thế mạnh tuyệt đối của các yếu tố sản xuất truyền thống như các tài nguyên thiên nhiên, sức lao động rẻ, dồi dào giảm dần, và chỉ mang ý nghĩa tương đối. Trí tuệ có tính sáng tạo sẽ là nền tảng của sự thịnh vượng giàu có của mỗi xã hội và quốc gia. Về đội ngũ trí thức Việt Nam, so với một nước có thu nhập thấp như nước ta thì lực lượng lao động có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ được đào tạo là tương đối lớn. Nước ta hiện nay có gần 9 nghìn tiến sĩ và phó tiến sĩ trên 800 nghìn người có trình độ đại học, cao đẳng, trên 3,5 cán bộ kỹ thuật và công nhân kỹ thuật, đây là điều kiện quan trọng cho quá trình phát triển Khoa học, tiếp thu làm chủ và thích nghi với Công nghệ nước ngoài, kể cả những công nghệ cao. Đội ngũ trí thức Việt Nam, trong thời gian qua đã có những cống hiến rất lớn. Nhờ có đội ngũ trí thức này như Đại hội Đảng lần thứ VIII đã đánh giá “Hoạt động Khoa học và công nghệ gắn bó hơn với nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội, thích nghi dần với cơ chế thị trường và đã có những đóng góp to lớn trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội nước nhà. Thực vậy theo Bộ Nông Nghiệp và phát triển Nông thôn thì ít nhất 30% năng suất lúa ở nước ta là nhờ vào khoa học. Nếu không có khoa học thì làm sao mỗi năm trong giai đoạn vừa qua sản lượng lương thực lai có thể tăng thêm khoảng 1 triệu tấn. Còn theo Bộ khoa học, Công nghệ và môi trường, chỉ riêng việc phản biện khoa học cho đề án xây dựng nhà máy nhiệt điện Phú Mỹ đã có thể làm giảm chi phí và đem lại lợi ích hơn 200 triệu đô la Mỹ. Nhưng, nhìn một cách tổng thể thì theo báo cáo của Bộ Khoa học, công nghệ và Môi trường, bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, công nghệ Việt Nam ở mức trung bình kém. Cụ thể trong các ngành công nghiệp, so với các nước công nghiệp trên thế giới, hệ thống máy móc thiết bị bị lạc hâu từ hai đến bốn thế hệ, mức tiêu hoa nhiên liệu gấp 1,5 lần đến 2 lần, năng xuất công nghiệp chỉ đạt có 30%. Một lao động nông nghiệp chỉ nuôi được 3 người trong khi đó ở Mỹ là 30 người. Các loại vật liệu mới như gốm kỹ thuật, vật liệu compogit chỉ chiếm là 5% tổng số các loại vật liệu. Trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp hệ số cơ giới hóa so với thế giới mới chỉ đạt 50%. Ngành máy cái của công nghiệp hóa chỉ tương đương với thời kỳ cách đây là 30 đến 50 năm của các nước trung bình trên thế giới, còn so với các nước công nghiệp phát triển cao thì lạc hậu đến 50 năm tới 100 năm. Hệ số đổi mới công nghệ là từ 8% đến 10%. Lượng hao phí năng lượng và nguyên liệu trên 50%, thiết bị chỉ sử dụng 1 ca trên 1 ngày lên tới 80%. Bên cạnh đó, trong các Viện và Trung tâm khoa học tuổi bình quân của tiến sĩ là 52,8, phó tiến sĩ là 48,1 giáo sư 59,5, phó giáo sư là 56,4. Cấp Viện trưởng là 55, cấp Viện phó là 50 số liệu điều tra ngày 1 tháng 7 năm 1995. Như vậy đến năm 2000 hơn 80% số người có học hàm, học vị đến tuổi về hưu.
Phan Xuân Dũng – Trí Thức Trẻ – số 23 – tháng 5 – 1997.