Monthly Archives: December 2015

Mạch điện tử bảo vệ thực phẩm và soong nồi

Ở nhiệt độ 300 độ C từ 250 độ đến 300 độ các loại thực phẩm vẫn nướng dễ dàng bị cháy đen, không thể ăn được vì mùi vị khó chịu và nó còn bị biến chất tạo ra một số hợp chất có thể gây ung thư. Các loại soong chảo không dính bề mặt được tráng một chất hóa học để chống hiện tượng dính bết. Khi nấu nướng chiên rán cũng sẽ bị hư hỏng lớp sơn này khi nhiệt độ lên khoảng trên 300 độ C. Thiết kế một mạch điện từ nhỏ gọn mà nguồn nuôi chỉ là một cục pin tiểu bỏ luôn vào cán soong nhằm mục đích báo động khi nhiệt độ tăng cao tới mức độ nguy hiểm là điều cần thiết. Mạch điện thiết kế đạt những yêu cầu sau:
nhỏ gọn có thể bỏ lọt trong cán soong nổi. Tiêu tốn ít năng lượng, một cục pin dùng được lâu dài. Thiết kế kín nước không thể lọt vào khi chùi rửa. Sau đây giới thiệu mạch đã lắp ráp thành công: hình 1 là mạch điện tử báo hiệu bằng ánh sáng phát ra từ một đèn Led nhỏ được gắn ở trong cán soong nồi. Q1, Q2 tạo thành mạch dao động đa hài nhằm tạo các xung điện xoay chiều để đưa đến bộ nắn điện tăng 4 lần điện áp làm sáng đi ốt quang led, sở dĩ phải có mạch điện tử chuyển đổi này là vì Led chỉ sáng khi nguồn nuôi có trên 2 vôn . Trong khi đó pin của chúng ta chỉ đạt 1,5 vôn cái mới 1, 3 cái đã cũ. Q3 là transister khoa, bình thường đi D1, D2 được mắc nối tiếp, với nhau xác định một điện thế bởi chiều thuận hai mối nối NP của nó là 0,6 vôn x 2 = 1,2 vôn. Điều này đủ điều kiện cho cực B của Q3 có điện áp cao do đó làm cho Q3 dẫn điện vì vậy điện thế cực C của Q3 hầu như không có, điều này sẽ làm cho cực B của Q1 mất điện do đó mạch báo dao động đa hài Q1, Q2 không hoạt động dẫn đến bộ tăng điện áp không có điện làm đèn Led không sáng! Bây giờ nếu ta đun nấu quá lửa, nhiệt độ tăng lên gần 300 độ C có nguy cơ cháy đồ ăn thì lập tức nội trở của hai đi ốt giảm xuống dưới 0,6 vôn điều này làm cho Q3 ngưng dẫn diện kết quả cực C của nó có điện thế, mạch dao động được mở khóa lúc này nó đủ điều kiện giao động mạch làm sáng đèn Led báo hiệu đã lên tới nhiệt độ nguy hiểm. Vậy đang đun nấu nếu đèn Led bừng sáng ta phải nhắc chảo ra khỏi bếp lửa và lập tức giảm lửa xuống nếu không thực phẩm của ta sẽ bị cháy khét, hoặc nếu là chảo không dích coi chừng chất hóa học được tráng trên nó sắp sửa bị hư. Mạch điện trên rất tiết kiệm điện chỉ tiêu tốn năng lượng là khoảng 2 mA với 1 cục pin 1,5 vôn với một cục pin tiểu giá rẻ ta dùng được khá lâu mới phải thay thế.
Hình 2: là mạch báo động có âm thanh. Về nguyên tắc vận hành của nó cũng giống như mạch hình 1, nhưng không thiết kế phần điện tử nâng cao điện áp. Phóng điện âm tầng ra thẳng loa điện áp phát ra tiếng kêu báo cho người làm bếp biết nhiệt độ đã tăng cao đến mức báo động nguy hiểm. Linh kiện các transister dùng loại thông dụng C828 đi ốt 4007, loa điện áp rất rẻ tiền và gọn 2 nghìn đồng một cái mua ở chợ bán linh kiện điện tử. Bạn bố trí mạch điện thật gọn với với cục pin mà nó chỉ tô bằng ngón tay cái, đút vừa vào ống rỗng cán của soong nồi cố định hai đi ốt cảm biến, dùng đinh tán bằng nhôm để tán ép sát vào vỏ soong nồi để lấy nhiệt. Dây dẫn của cảm biến được luồn vào ống của cán soong nồi, hàn vào mạch điện, cố gắng thiết kế có lót cao su để cho nước không vào khi ngâm soong nồi ở bể nước. Như vậy, mạch điện tử này thật là tối ưu và tiện lợi, nó bảo vệ thức ăn khỏi cháy và bảo vệ lớp sơn của soong chảo không dính. Có thể sản xuất hàng loạt lấy tên là soong nồi tự động báo chống cháy.
Đặng Hữu Xướng – Trí Thức Trẻ – số 17 – tháng 11 – 1996.

Luận bàn về thiên văn học trong nghệ thuật chiêm tinh – Phần 8

Có thể nào nghĩ khác được về sự quá ư khinh xuất đến nỗi bỏ qua đi một thực tế là trong nhân dân xưa nay người ta chỉ cần nói Tiết lập xuân, Tiết thanh minh.. chứ nào có ai lại nói Tiết hạ chí, Tiết đông chí… bao giờ! Trong bài viết trước (Trí thức trẻ số 11 – 1996) đã có định nghĩa phân biệt về tiết và khí trong âm – dương (Có thể hiểu một cách nôm na: m là Thái âm, là Mặt trăng sinh ra âm khí, còn Dương là Thái Dương là Mặt trời sinh ra dương khí. Thứ âm và sinh m thuộc hành Thủy và Thái dương sinh Dương thuộc hành Hỏa. Lịch – m – Dương dùng để nghiên cứu xem xét sự tương tác lẫn nhau trong quá trình vận động của Thái m và Thái Dương sinh ra hai nguồn khí m – Dương đối lập nhau về tính lý và không ngừng biến hóa, là cơ sở lý thuyết để xác lập các định luật về m – dương ngũ hành và dùng các định luật này để tính toán, giải tích những diễn biến của các nhịp sinh thái trong tự nhiên qua các mùa tác động đến các nhịp sinh học trong cơ thể con người và hệ động vật – thực vật nói chung. Đó chính là cơ sở lý thuyết, là khoa học cơ bản của các khoa thuật lý số cổ xưa, mà ngày nay nhiều người muốn tiếp cận phải biết và hiểu rằng nó quả là không đơn giản chút nào như ta tưởng tượng…. Tiết và khí là hai yếu tố thiên văn chủ yếu cấu thành lịch m – Dương. Có thể nói rằng Tiết và Khí “cầm trịch” cả quá trình vận động của tự nhiên, phân định thời lượng và phản ánh tính chất thời tiết của từng tháng, từng mùa trong một năm âm lịch. Tiết và khí có vị trí được xem như cố định trên quỹ đạo của “Hành tinh kép” (Hệ trái đất – mặt trăng). Cần có sự phân biệt khái niệm về các ngày tiết và ngày khí được tính trong lịch pháp định sẽ luôn có sự dao động xung quanh vị trí thực của nó trên quỹ đạo và sai lệch đó phụ thuộc vào phương pháp tính nhuận cho năm dương lịch cụ thể là với cách tính 4 năm có một năm thuận thì sai lệch vị trí đó là không quá một ngày. Sở dĩ có sai số như vậy là vì hành vi kép quay trọn một vòng xung quanh Mặt trời sẽ mất một khoảng thời gian bằng 365,2422 ngày nên khi tính lịch phải qui tròn theo đơn vị ngày tạo ra sai số tích lũy cần phải hiệu chỉnh. Vậy tính nhuận có thể hiểu một cách nôm na là để cầm chân các ngày lịch không chạy ra quá xa vị trí thực của Tiết và khi trên quỹ đạo, với một cuốn lịch thường thì sự chuyển vị của ngày Tiết và Khí không quá một ngày là đủ dùng. Trong lĩnh vực khoa học huyền bí cổ xưa, lịch âm dương được vận dụng rất chính xác, tinh vi và đã làm nên những điều kỳ diệu, những xét đoán chính xác đến khó tin như sấm ký Trạng Trình, Khổng Minh cầu gió…Để hiểu rõ hơn những điều phân tích về các yếu tố thiên văn cấu thành lịch m Dương, xin nêu ra một ví dụ cụ thể về phép dùng lịch trong một môn lý số cổ xưa nhất của người Trung Hoa được xây dựng trên cơ sở lý thuyết Kinh dịch và được giải trực tiếp bằng 64 quẻ dịch, đó là lý số Hà Lạc (giới trí thức Hoa Kiều ở Việt Nam trước đây ưa dùng lý số Hà lạc hơn Tử vi không chỉ vì tính chính xác của lời giải mà còn vì tính triết lý rất sâu sắc). Nhiều người đã quen với cách tính năm, tháng, ngày, giờ của Tử vi ắt sẽ thấy lạ lẫm với phép tính của Hà lạc, ví dụ như nguyên tắc xác định yếu tố tháng của Hà lạc khác với Tử vi như sau: Tháng của Hà lạc không lấy theo tháng m lịch (nghĩa là từ ngày Sóc này đến ngày sóc kia của hai chu kỳ trăng kề nhau) mà được xác định theo âm dương lịch (nghĩa là kể từ ngày Tiết này đến ngày tiết sau đó giữa hai tháng Dương lịch). Nói rõ hơn thì tháng Hà lạc bao giờ cũng gồm trọn vẹn cả hai ngày Tiết – khí, nghĩa là khởi đầu và kết thúc đúng một nhịp biến đổi của âm dương khí. Tháng Hà Lạc cần xác định độ chính xác rất cao là ở chỗ còn phải tính đến giờ sinh ra Tiết (gọi là giờ giao tiết) và nếu đến ngày tiết rồi nhưng chưa tới giờ sinh của tiết thì vẫn còn là tháng trước. Chỉ cần xem qua cách tính tháng chính xác đến như vậy cũng đã cho ta một khái niệm về các khoa thuật lý số cổ xưa có quan hệ chặt chẽ như thế nào đến qui luật vận động của tự nhiên qua những Tiết khí, những hối, sóc, huyền, vọng … là những yếu tố thiên văn quan trọng nhất, mà nếu như không hiểu đúng và không xác định được chính xác thì khó có thể vận dụng được đúng đắn vào cuộc sống.
Hà Vi Tử – Trí Thức Trẻ – số 11 – tháng 15 – 1996.