Monthly Archives: December 2015

Có một Trung Quốc ở Hung ga ri – phần 2

Đến năm 1995, tình hình mới thực sự được kiểm soát và tổng cộng, đã có 10 nghìn người Hoa đến Hung ga ri. Trong đó có 300 đối tượng được phép định cư lâu dài, gần 2.500 được phép cư trú ổn định. Cũng có hàng nghìn công ty kinh doanh của người Hoa đăng ký hoạt động. Đa số không ngừng phát triển với mức thu nhập của các ông chủ hàng năm từ 100 đến 200 nghìn đô la mỹ. Tại Hung ga ri cũng có 10 người Hoa lọt vào danh sách triệu phú đô la mỹ với mức thu nhập khoảng 2 triệu đô la mỹ cho một năm. Tuy vậy, dường như tất cả đều sống khiêm nhường, tranh phô trương sự giàu có. Họ thuê những căn hộ loại thường, vùng ngoại ô, không xây dựng biệt thự, không quần tụ quá đông vào một khu vực và thường lao động quên cả khái niệm ngày đêm. Dưới phương diện này họ khác hẳn người địa phương. Trong vòng 5 năm chỉ độc nhất có 5 cô gái người Hoa chịu lấy chồng là người Hung ga ri bởi họ bị mang tiếng biếng nhác trong mắt người Hoa, thế nên các gia đình người Hoa thường không cho phép con gái mình quan hệ với các chàng trai bản xứ. Trái lại, đã có hàng trăm đấng mày râu người Hoa quyết định lấy vợ Hung ga ri, và hàng năm, cứ vào dịp tết mùa xuân, những đối tượng này nô nức thuê máy bay chuyên cơ về thăm Bắc Kinh.
Từ vịt Bắc Kinh đến Mỏ Đồng
Chủ một trong những nhà hàng Trung Quốc đầu tiên ở Budapest mang tên “Fairyland” trên đại lộ Margit, anh Liu Siyue, người tốt nghiệp đại học nhân văn ở Hung ga ri từng mơ ước trở lại sông Đu Nai. Bước khởi đầu, anh kéo vợ von sang. Theo Liu không đô thị có hạng nào có thể tồn tại thiếu món ăn Tàu. Nhất là trường hợp Hung ga ri, dân tộc vốn có tập quán ăn nhiều gia vị. Liu kiên trì chiến lược kinh doanh số lượng bù đắp lãi suất món ăn thấp. Kết quả: nhà hàng quanh năm đông đặc khách và lãi thực ngày càng cao. Thoạt đầu Liu chỉ thuê người nhà, sau đó, bạn bè và mới đây cả nhân viên chạy bàn Hung ga ri. Nay mai Liu còn mở nhà hàng thứ hai. Vả lại, Budapest tràn ngập những quán ăn như thế, bởi đã có 150 nhà hàng Tàu ở ngoài Budapest. Ở đâu cũng có thể thưởng thức món vịt Bắc Kinh. Dẫu vậy, mạng lưới dịch vụ ăn, uống chỉ là mỏm đỉnh của núi băng. Dưới nó là thương mại Khởi đầu là sợi gửi máy bay, bây giờ đến lượt các nhà ga xe lửa nơi mỗi ngày cập bến hàng trăm toa xe chật cứng đủ loại hàng hóa cũng như nguyên liệu. Không phải tất cả đều tiêu thụ ở thị trường này. Số lượng lớn sau đó được chuyển từ Badapest sang Ucraina, Xlovakia, Rumani, Ba Lan…. Người Hoa chọn Hung ga ri là căn cứ địa và từ đây, điều khiển toàn bộ hoạt động trong vùng Trung u. Tháng 12 năm 1995, tại Nyiregyhara, tức ngã ba tiếp giáp với Xlovakia, Ucrainia và Rumania, Trung tâm thương mại Trung Quốc được khánh thành với 60 quầy hàng, 2 triệu ăn, khách sạn và hệ thống kho tàng, tổng cộng trên 5 nghìn mét.
Vinh Thu- Trí Thức Trẻ – số 18 – tháng 12 – 1996.

Có một Trung Quốc ở Hung ga ri – phần 1

Tại Hung ga ri đã có hàng nghìn hãng kinh doanh của người Hoa. Khách du lịch phương Tây dạo phố Budapest hoa mắt ngạc nhiên hỏi dân bản địa: Các bạn đã có China – town (khu phố Trung Hoa). Đâu có người Hung ga ri trả lời. Họ không có khu phố riêng song họ ở khắp nơi! Cứ hai công dân Hung ga ri đã có một mang trên mình bộ đồ lót hàng Tàu. Và không có gì lại, một khi chỉ tính trong năm 1995, giới doanh nghiệp người Hoa làm ăn tại đất nước này đã nhập số hàng hóa trị giá ngót 1 tỷ đô la mỹ, Cuộc tấn công của Trung Quốc không chỉ nổi trội trong thương mại, mà cả lĩnh vực dịch vụ ăn uống – lãnh địa vốn được coi là thế mạnh của người Hung ga ri. Chỉ riêng thủ đô Budapest đã có 50 nhà hàng Trung Hoa và lúc nào cũng thu hút số lượng khách hàng đông đảo hơn hàng ăn bản xứ, bởi các món ăn đều tuyệt vời và rẻ hơn.
Hồng Không trên sông Đu Nai
Đầu năm 1989, Hung ga ri bãi bỏ thủ tục thị thực đối với người Hoa. Sự kiện diễn ra sau chuyến viếng thăm của nhóm các nhà doanh nghiệp kếch xù từ Hồng Kông những chủ tư bản tới đây thư giãn. Họ thích thú với thành phố Szolmok cách xa thủ đô Budapest tới 100 km và đặc biệt đam mê hòn đảo Csepel trên sông Đu nai dẻo đất hoang tàn, mà người dân địa phương chẳng ai để mắt tới. Chính nơi đây sẽ có thể hình thành vùng kinh tế đặc quyền điểm tập kết lý tưởng cho tất cả người Hoa nuôi ý định rời bỏ Hồng Kông sau ngày lãnh địa này được trao trả cho đại lục, tháng 6 năm 1997! Lóe sáng ý tưởng về dòng thác đô la, người Hung ga ri nhiệt thành chào đón những công dân Hoa đầu tiên, song không phải từ Hồng Kông, mà từ Trung Hoa đại lục những công dân Bắc Kinh còn e dè bay đến Budapest qua đường Vác sa va. Cuộc sống ở Hung ga ri khiến họ nhanh chóng say lòng, nhất là khả năng kéo dài thời gian cư trú hoặc quyền định cư lâu dài nếu đối tượng tham gia hoạt động kinh tế. Bằng chứng của đối tượng thứ hai là tài khoản trị giá tối thiểu 6 nghìn đô la mỹ trong bất kỳ nhà băng Hung ga ri nào. Bởi lẽ không phải người Hoa nào đặt chân tới đây cũng đều là triệu phú, nên việc thay tên đổi họ những tài khoản đô la mỹ là hiện tượng khá phổ biến đảm bảo để cộng đồng triệu phú người Hoa không ngừng phát triển. Làn sóng người Hoa đổ bộ vào Hung ga ri lên tới đỉnh cao vào năm 1991. Thời gian đó, tại quốc gia nhỏ bé này có tới 40 nghìn dân tàu. Một kỷ lục dẫn đến không chỉ sự náo loạn trong các nhà băng, mà cả quyết định cấp lại thị thực và rà soát số giấy phép định cư dài hạn. Nhiều triệu phú rỏm bị tống về nước những người khác không được phép ra khỏi sân bay Feribegy.
Vinh Thu- Trí Thức Trẻ – số 18 – tháng 12 – 1996.

Bệnh khiêm ở người Úc – Phần 3

Cũng có thể khái quát một nét riêng của dân Úc là họ có phong cách sống, thể hiện rõ nhất trong ăn mặc, nói năng, là bình dân, bình thường hơn người Anh hay người Mỹ. Họ rất sợ bị dư luận lên án là đánh mất đức tính khiêm tốn, sợ bị gọi là tên phân biệt giai cấp. Khái niệm “Tall poppy syndrome” là một công cụ xã hội có cái hay của nó. Nhưng, như dư luận Úc thừa nhận nó cũng là một loại bệnh, tức là nó cũng có mặt trái của mình. Nhiều khi giới thượng lưu ở nước Anh và một số người Mỹ coi người Úc là kẻ vô học. Thật ra người Úc nói chung thích đáng vai trò người vô học như vậy, đến nỗi họ cũng đã sáng tạo ra một loại ngôn ngữ mà một số người gọi là “tiếng anh – úc”. Tiếng Úc là tiếng Anh lẫn với một lượng tiếng lóng mang tính bình dân Úc, thậm chí cũng có khi người Anh, người Mỹ không hiểu nổi nhau. Thái độ của người Úc trước việc họ bị hạ giá như vậy thường là phẩy tay kệ cha chúng nó và trong không ngữ riêng của mình người Úc cũng có nhiều cách để nói xấu, những kẻ tự cho mình quyền xét đoán và coi thường những gì đã thành truyền thống của người khác. Tuy nhiên điều quan trọng cần nói là vấn đề ảnh hưởng của hiện tượng bệnh hoa thuốc phiện cao đến công cuộc phát triển đất nước Úc và đến tâm lý chung của người dân nước này. Phải chăng một vũ khí tâm lý như “tall poppy syndrome” nhằm mục đích giữ gìn sự hòa hợp xã hội trước những ảnh hưởng xấu của sự cạnh tranh cá nhân sẽ chỉ dẫn đến quan niêm “bình thường hơn phi thường”, bình quân hơn siêu quần? Nếu đúng như vậy, có phải quan niệm này đã và đang quyết định mức độ cố gắng có phần cầm chừng của người Úc, làm ảnh hưởng đến tốc độ phát triển kinh tế của đất nước và lý giải tại sao kinh tế Úc thua kém kinh tế Mỹ? Hơn thế người Úc chấp nhận thua kém các nước có xu hướng vươn tới siêu phàm, ưu tú, phải chăng sự kiện này sẽ dẫn đến căn bệnh thiếu tự tin? Hay chính khái niệm “Bệnh hoa thuốc phiện cao” đó đã xuất phát từ một tâm lý thiếu tự tin?
Có thể kết luận rằng người Úc truyền thống là những người thiếu tự tin và vì vậy họ buộc phải chấp nhận thua cuộc trước những người siêu việt. Nhưng dù có như thế thì cũng chẳng sao vì có lại để xướng sự phát triển đất nước bằng việc chỉ ngừng lại ở đời sống vật chất? Có phải người Úc theo quan niệm truyền thống, như “tall poppy syndrome” chứng minh, đang cô gắng tìm kiếm con đường dẫn đến sự cân bằng, tuy rất khó thực hiện, giữa tinh thần và vật chất? Nhưng nếu quả như vậy thì ý định đó của họ thật đáng trân trọng chứ sao!
STEVEN COXHEAD- Trí Thức Trẻ – số 17 – tháng 11 – 1996.

Bệnh khiêm ở người Úc – Phần 2

Những người nói trên đều thống nhất nhận định là dân Úc không trân trọng sự thành đạt của người khác, rằng khi sống xa đất mẹ, họ sẽ không còn phải lo sợ, rằng sẽ có những người theo dõi họ để nhận xét xem họ còn giữ được đức tính khiêm tốn theo tiêu chuẩn của dân Úc nữa hay không. Về mặt này, có thể đưa ra một nhận xét chung, rằng người Úc, thông qua văn hóa dân gian có những đặc điểm khác so với người Anh và người Mỹ, mặc dù ba dân tộc này có cùng gốc rễ và lấy tiếng Anh làm tiếng mẹ đẻ. Nói chung người Anh có sự phân biệt rõ ràng các giới trong xã hội, bằng chứng là trong tiếng Anh tồn tại ba từ chỉ ba giai cấp: “Upper class – thượng lưu, middle class – trung lưu và lower class – hạ lưu. Thực ra trong cả ba xã hội Anh, Mỹ, Úc, hiện nay đều tồn tại các giới này, song quan điểm của người dân ba quốc gia nói trên về vấn đề lối sống của giới thượng lưu nên như thế nào, thì nói chung lại khác nhau khá rõ. Trong xã hội Anh, giới thượng lưu là tầng lớp quý tộc. Gia tộc đứng đầu tầng lớp này là hoàng tộc, tức là gia đình của nữ hoàng Elizabeth II. Hiện nay giới thượng lưu ở đó tương đối cố định theo quan niệm “cha truyền con nối”. Mặc dù quyền thế của quý tộc dựa vào truyền thống hơn là một quyền lực nào cụ thể, dư luận xã hộ Anh quốc vẫn chấp nhận để giai cấp thượng lưu có đặc quyền đặc lợi và họ có quyền sống xứng đáng với địa vị đó, một địa vị tất nhiên là cao sang hơn hẳn so với giai cấp khác. Không giống ở nước Anh, người Mỹ bác bỏ đặc quyền của quý tộc Anh ngay sau khi họ chiến thắng trong cuộc chiến tranh giành độc lập vào năm 1776. Thay thế cho một tầng lớp quý tộc chỉ biết dựa vào truyền thống gia tộc trong giới thượng lưu là những người thật sự tài năng và sự thành đạt là tiêu chí đánh giá. Nói chung xã hội Mỹ khuyến khích mọi người dân xây dựng niềm tự tin và cố gắng không ngừng để thành công trong mọi lĩnh vực và giành được sự khâm phục của toàn xã hội. Mỗi người đều có thể đi lên từ một xuất phát điểm trong tầng lớp hạ lưu và phương tiện mà họ dùng cũng rất đa dạng: thể thao, kinh doanh hay chính trị. Điều quan trọng là họ có thành tựu và giành được vị trí trong giới thượng lưu, một địa vị cao sang và một cuộc sống xứng đáng luôn chờ đón họ. Nhưng ngược lại, trong xã hội Úc, mặc dù có sự khuyến khích những cố gắng cá nhân nhằm đạt tới thành công, dư luận vẫn cảnh cáo nghiêm khắc thái độ khoe khoang của giới thượng lưu, để phòng một sự khác biệt quá rõ ràng về lối sống giữa các giai cấp trong xã hội. Khái niệm “bệnh hoa thuốc phiện cao” là một công cụ xã hội sử dụng vào việc ngăn chặn mâu thuẫn có thể xảy ra giữa các tầng lớp xã hội và lấy lại niềm tin của dư luận vào sự bình đẳng giữa mọi người dân. Có thể nói xã hội Úc đã lựa chọn khả năng hạn chế sự cạnh tranh cá nhân cũng như hạn chế địa vị của quý tộc Anh quốc ở nước mình nhằm giữ gìn sự hòa hợp giữa các gia cấp trong xã hội.
STEVEN COXHEAD- Trí Thức Trẻ – số 17 – tháng 11 – 1996.

Bệnh khiêm ở người Úc – Phần 1

Trong dân gian Úc có một khái niệm gọi là “Tall Poppy Syndrome” được sử dụng để chỉ đức tính khiêm tốn truyền thống của người dân nước này và những ảnh hưởng của nó đến những người có địa vị cao sang trong xã hội. “Tall Poppy Sydrome” có thể dịch nôm na ra tiếng việt là “bệnh khiêm”, tuy nhiên ba từ tiếng Anh có chứa đựng những ý nghĩa sâu xa, đòi hỏi phải được phân tích kỹ cả về phương diện ngôn ngữ lẫn phương diện xã hội học “ Syndrome” là từ dùng để chỉ chung những loại bệnh thường là khó chữa. “Poppy” là từ dùng để chỉ chung những loại bệnh thường là khó chữa. “Poppy” là loại hoa nhiều màu sắc, được các gia đình Úc trồng như một loại cây cảnh, hình dáng của nó giống như hoa anh túc. Còn tall có nghĩa là cao lớn. Nhưng ở đây có một câu hỏi được đặt ra: “Những hoa thuốc phiện cao” thì có gì cần bàn? Vấn đề là ở chỗ đó. Cụm từ này dùng để nói đến một đặc tính truyền thống của người Úc. Khi nói tới “tall poppy syndrome” bất kỳ người Úc nào cũng đều hiểu và đồng ý với cách suy luận rằng những bông hoa quá cao trong một vườn hoa sẽ bị hái trước tiên. Một bông hoa tươi đẹp, nhô cao hơn hẳn so với những bông khác trong vườn thì cũng có thể hiểu là nói muốn thách thức mọi người, tức là nó đang ở vào một vị trí không mấy an toàn. Còn nếu phân tích về mặt xã hội học thì khái niệm “tall poppy syndrome” chỉ số phận không được tốt đẹp lắm của những người “siêu việt”, những người có nhiều thành đạt trong đời nhưng không may phải sống trong xã hội Úc vốn rất khắt khe với những cá nhân mắc bệnh thích khoe khoang về sự thành đạt của bản thân mình. “Bông hoa thuốc phiện cao” dùng để chỉ những người siêu phàm trong xã hội Úc cao làm cho khổ sở, vì dư luận chủ yếu tập trung vào những mặt khuyết điểm của họ. Thực tế đã chứng minh là nhiều người thuộc diện “bông hoa thuốc phiện cao” ở Úc, chủ yếu là những nhân vật danh tiếng, những người gặt hái nhiều thành công trong đời tư, những người đang ở địa cao sang trong xã hội, đã phải đối đầu với sự khắc nghiệt của số phận. Để tránh mọi bất chắc do “luật tâm lý xã hội” đem đến, những người này thường cố gắng giấu kín địa vị thực của mình bằng cách tỏ ra bình dân. Những ai không làm được như vậy thì chọn cách giải quyết cực đoan hơn là rời bỏ cuộc sống ở Úc để đến lập nghiệp tại Anh hoặc Mỹ với hy vọng sẽ sống thoải mái hơn trong một xã hội mà mọi người tư duy thoáng hơn.
STEVEN COXHEAD- Trí Thức Trẻ – số 17 – tháng 11 – 1996.

Thời điểm nào trong ngày bạn làm việc tốt nhất?

Con người chúng ta là sản phẩm của thiên nhiên, cho nên cơ thể chúng ta cũng sống theo một nhịp điệu nhất định. Nếu chúng ta biết được các nhịp điệu đó mọi hoạt động sẽ hiệu quả hơn. Sau đây chúng tôi xin giới thiệu kết quả nghiên cứu của các nhà bác học Pháp về các thời điểm trong ngày phù hợp với các hoạt động của con người để các bạn tham khảo.
Vào 1 giờ sáng: ta không nên làm việc vì lúc này hiệu quả làm việc của não ở mức thấp nhất.
Vào 5 giờ sáng lúc này ở người đàn ông xuất hiện số lượng hoóc môn Testosteron nhiều nhất. Sự trao đổi chất tăng lên. Theo phương diện sinh lý học thời điểm này là rất phù hợp với các hoạt động chăn gối. Vào thời điểm khi con người đã được thỏa mãn các nhu cầu sinh lý, bộ não được tiếp thêm các năng lượng giải phóng từ các hoạt động chăn gối và làm tăng khả năng tập trung của não bộ trong ngày mới. Vào 6 giờ sáng trong hệ thống tuần hoàn số lượng đường và Axit Amin rất cao.Tất cả đã chuẩn bị cho việc bổ sung năng lượng cần thiết cho cơ thể. Những người ngủ dậy sớm thường thấy sảng khoái hơn và hoạt động của họ có thể sẽ có hiệu quả hơn. Vào thời điểm này không nên hút thuốc hoặc uống rượu. Vào 10 giờ sáng đây là đỉnh cao của tuần hoàn máu. Chúng ta có thể giải quyết các vấn đề nhanh hơn, minh mẫn hơn. Khả năng ghi nhớ của não cũng hoạt động tốt hơn. Vào 11 giờ sáng tim đập nhanh hơn. Khả năng chịu đựng của cơ thể lúc này là cao nhất. Con người cũng dễ dàng vượt qua các Stress. Vào 12 giờ trưa trong dạ dày số lượng A xít tăng. Đồng thời não bộ cũng bắt đầu cảm thấy lười. Chúng ta cần phải nghỉ ngơi. Nếu chợp mắt được một chút là tốt nhất sau khi đã ăn trưa.Vào 2 giờ chiều khả năng ghi nhớ rất tốt. Vào thời điểm này cơ thể cảm nhận đau đớn ít nhất. Như vậy nếu bị đau răng bạn hãy đến gặp bác sĩ vào lúc này.
Vào 4 giờ chiều cơ thể lại đạt đến đỉnh cao của khả năng làm việc. Tuần hoàn máu và huyết áp lại được thức tỉnh ở mức tố nhất. Nếu vào thời điểm này mà chơi thể thao thì hợp nhất. Vào 6 giờ chiều nhịp thở thường nhanh hơn và ta cần được hít thở sâu không khí trong lành. Vào thời điểm này bạn có thể đưa ra các quyết định quan trọng. Vào 7 giờ tối nhịp tim và huyết áp bắt đầu giảm hoạt động của não bộ cũng giảm dần. Lúc này ta rất khó tập trung đầu óc cho công việc gì đó. Vào nửa đếm việc tiết chế hoóc môn stress trong cơ thể giảm ở mức thấp nhất. Cơ thể cần được nghỉ ngơi hoàn toàn.
ĐT- Trí Thức Trẻ – số 18 – tháng 12 – 1996.

Những bi kịch tuổi học trò – Phần 3

Bé đã sớm phải chứng kiến cảnh cha mẹ mỗi người một đường. Tôi trơ trọi đứng giữa, nhìn mà tuyệt vọng. Trong tâm thức người Việt Nam, không có cha, hay mất cha là một tổn thất rất lớn: thiếu một chỗ dựa, một sự nâng đỡ, “Con không có cha như nhà không có nóc”, thiếu một tình thương và một lòng tin. Tuy sống với mẹ nhưng Q.T lại không được hưởng tình thương yêu chăm sóc của mẹ. Dường như đối tượng đầu tư cảm xúc của người mẹ này không phải là đứa con côi cút đáng thương mà là những người đàn ông. Nguồn lực nâng đỡ duy nhất còn lại của Q.T là ông ngoại, nhưng tình thương yêu cuối cùng này giờ đây cũng không còn nữa. “… Tôi trơ trọi đứng giữa nhìn mà tuyệt vọng…”. Song một tác nhân nữa càng làm cho Stress gia tăng có lẽ là những lời mắng nhiếc hàng ngày của người mẹ làm hạ phẩm giá của đứa con. “Sao mày đần thế? Sao mày hãm thế? Đã là những ngọn đòn trí mạng ám vào lòng tự trọng của cô bé vốn đã không còn tình thương và lòng tin kiến tạo ra một mặc cảm tội lỗi”. Và đừng cứu tôi. Nếu tôi có sống đi chăng nữa cũng chỉ là cái gai di động trước mắt mọi người…”. Mặc cảm tội lỗi đó cứ bị dồn nén vào cõi vô thức, không được chia sẻ với ai sinh ra giận dữ oán thù. Tình cảm giận dữ này không trút bỏ vào một đối tượng nào khác mà hướng vào chính bản thân. Đó là nguồn gốc ý tưởng tự sát. Ý tưởng tự sát này đã được hình thành từ lâu ít ra là một tháng trước đó (hôm rủ bạn đi mua thuốc bả chuột). Song điều bất hạnh cho cô gái là hành vi này đã không được phát giác và cảnh giác. Rõ là sự tan vỡ gia đình, tình yêu thương bị tước đoạt, sự mất lòng tin và vi phạm lòng tự trọng đã tạo ra nơi Q.T một stress mạn tính, một thiếu nữ đang tràn trè sinh lực (Q.T là một cô gái xinh xắn, hoàn toàn khỏe mạnh), đang khát khao cuộc sống: “… Tôi chỉ mong muốn cho mình một cuộc đời hạnh phúc đầm ấm sung sướng…” và cũng chứa chan lòng nhân ái, “… Mong rằng kiếp sau gặp lại cuộc đời sẽ hạnh phúc hơn phải không?…” (lời cuối thư). Xung đột nội tâm không lối thoát, dai dẳng, vượt quá sức chịu đựng, lại sống trong cảnh cô đơn không người nâng đỡ, Q.T không còn cách phòng vệ nào khác ngoài cách ứng phó tiêu cực là tìm đến cái chết, một hành vi tự hủy hoại để thoát thân. Tháng 10 năm 1996.
GS. Đặng Phương Kiệt – Trí Thức Trẻ – số 17 – tháng 11 – 1996.

Những bi kịch tuổi học trò – Phần 2

Vĩnh biệt: Q.T. Vĩnh biệt xã hội, ngôi nhà thế giới này. Mong rằng kiếp sau gặp lại. Cuộc đời sẽ hạnh phúc hơn phải không?
Theo lời kể của thân nhân: Sau 16 giờ 30 phút cùng ngày, người mẹ đi làm về thấy con gái không đi học như mọi ngày (sách, vở cặp còn để trên bàn), gọi con không thấy trả lời, vội mở chăn ra thì thấy tay chân lạnh toát, nước tiểu ướt đãm quần áo, không thở, mắt cứng đờ vội mang đi bệnh viện nhưng không cứu được. Được biết, bữa trưa hôm đó ngày 3 tháng 4 năm 1995, ăn cơm với bà ngoại (vốn ít quan tâm đến cháu) nhưng ăn ít. Sau đó về buồng riêng có lẽ uống thuốc diệt chuột Trung Quốc. Lá thư kể trên được tìm thấy trên mặt bàn cạnh giường nằm chắc được viết ra ngay trước lúc có hành vi tự sát.
Q 1 là một thiếu nữ tuổi 16, không thi vào được lớp 8 nên xin vào học một trường trung cấp tài chính (do một người chị họ của mẹ đang làm ở ngành này xin cho. Bố mẹ ly dị từ lúc được một năm tuổi. Mẹ là một công nhân, học hết lớp 7, tự nguyện kết hôn với người chồng, hơn 7 đến 8 tuổi, vốn là một cán bộ phiên dịch trung cấp tiếng Nga, đã có lần đi theo một đoàn cán bộ sang Nga làm phiên dịch, bị đuổi về nước vì có quan hệ bất chính với một người con cái Nga. Trở về nước không có việc làm, bố mẹ ở quê là nông dân nghèo. Tuy nghèo, nhưng cố làm ra vẻ sang trọng: mượn quần áo mới, giầy mới. Tình cờ một lần nói chuyện với một người Nga trên đường phố, được vợ chưa cưới chứng kiến, anh là một người đẹp trai, có sức hấp dẫn… rồi hai người kết hôn. Sau kết hôn, hai người chỉ thuê được một căn nhà rất tồi tàn. Cảnh nghèo túng không thể che giấu được, người vợ vỡ mộng và quyết định ly dị chồng khi đứa con vừa tròn 1 tuổi. Từ khi cha mẹ ly dị. Q.T ở với mẹ và ông bà ngoại. Mẹ ở vậy nuôi con nhưng vẫn có nhu cầu gần gũi với nhiều người đàn ông khác, thường tự nguyện đi lại với một người đàn ông ngay cạnh nhà, là một kỹ sư, đã bỏ vợ, sống độc thân, có lần đánh ghen với một phụ nữ khác là bồ của người đàn ông này. Mẹ ít có thì giờ và ít để tâm chăm sóc con, lại hay mắng “Sao mày đần thế, sao mày hãm thế, không có bạn bè gì cả (ý nói bạn trai)…”. Chỉ có ông ngoại quan tâm, nhưng ông ngoại đã chết trước đây hai năm. Một tháng trước Q.T rủ một bạn gái đi mua thuốc diệt chuột Trung Quốc nhưng bạn ngăn lại (người bạn này kể lại)
Lời bàn: Lá thư có lẽ đã phản ánh khá trung thực tâm trạng cô gái. Nỗi tuyệt vọng bắt nguồn trước hết từ cuộc tan vỡ hôn nhân của hai bố mẹ. Từ khi ly dị, bố Q.T vào ở hẳn Sài Gòn và không một lần gặp lại con: cuộc chia ly là vĩnh viễn, thậm chí khi nhận tin con chết cũng không ra thăm. Càng lớn lên, Q.T càng cảm thấy đau khổ vì gia đình tan vỡ…
GS. Đặng Phương Kiệt – Trí Thức Trẻ – số 17 – tháng 11 – 1996

Những bi kịch tuổi học trò – Phần 1

LTS: Trong lĩnh vực tâm lý học, kể cả tâm lý trẻ em, stress được xem là một típ trải nghiệm độc nhất vô nhị ngày càng thu hút sự quan tâm to lớn không những của các nhà tâm lý học mà còn của nhiều giới khoa học khác như sinh lý học, y học, xã hội học, các nhà nghiên cứu môi trường… Những câu hỏi thường được đặt ra: stress thực chất là gì? Những tác nhân gây stress nào là phổ biến? Bằng cách nào các tác nhân gây stress có thể ảnh hưởng đến sức khỏe thể chất và tinh thần mỗi cá nhân, mỗi gia đình? Con người ứng phó với stress ra sao và có cách nào ngăn chặn được stress? Giáo sư Đặng Phương Kiệt, bác sĩ nhi khoa và là thành viên Hội đồng khoa học Trung tâm N – T đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này sẽ giới thiệu với bạn đọc Tri thức trẻ một số đáng quan tâm nhất giúp chúng ta hiểu thêm về tuổi học trò.
Kỳ 1 – một lá thư tuyệt mệnh
Ngày 3 tháng 4 năm 1996. Thế là tôi quyết định cho cái chết cho mình, đó cũng là một giải pháp cuối cùng để giải thoát chính mình để sang thế giới bên kia. Tất cả quá khứ và tương lai sẽ vứt bỏ hết chỉ còn lại cái chết là tốt nhất. Vĩnh biệt cuộc đời đau khổ. Tôi chịu quá nhiều mất mát rồi. Bé đã sớm phải chứng kiến cảnh cha mẹ mỗi người một đường. Tôi trơ trọi đứng giữa. Nhìn mà tuyệt vọng. Tôi xin viết vài dòng ngắn ngủi này. Cái chết của tôi chắc phần nào nhẹ bớt đi một gánh nặng. Mà đáng ra tôi không nên sinh ra và lớn lên ở xã hội này. Nhưng tôi vẫn phải tồn tại. Tôi xin viết vài dòng ngắn ngủi này. Cái chết của tôi chắc phần nào nhẹ bớt đi một gánh nặng. Mà đáng ra tôi không nên sinh ra và lớn lên ở xã hội này. Nhưng tôi vẫn phải tồn tại. Tôi tồn tại mà tâm hồn tôi đã chết. Tôi chỉ mong muốn một điều: Hãy để tôi được chết thanh thản, nhẹ nhàng như bao người đã chọn cho mình một hướng đi. Và đừng cứu tôi. Nếu tôi có sống đi chăng nữa cũng chỉ là cái gai di động trước mặt mọi người. Và hôn đã chết rồi chỉ còn thể xác. Và mọi người lại trách móc. Tôi đần độn, tôi đần độn. Nhưng cái gì đã làm cho tôi đần độn như vạy, cái gì hả? có phải cuộc sống này đã làm tôi mất mát lớn như vậy? Tôi chỉ mong muốn cho mình một cuộc đời hạnh phúc đầm ấm sung sướng. Mà cái mơ ước nhỏ nhoi đó cũng không có được. Thôi, tôi dừng bút tại đây. Tôi mong rằng mọi người đều hạnh phúc.
GS. Đặng Phương Kiệt – Trí Thức Trẻ – số 17 – tháng 11 – 1996.

Phương thuốc kéo dài tuổi thanh xuân

Từ nhiều năm nay, các nhà khoa học đã nghiên cứu nhiều yếu tố chủ yếu dẫn đến sự già nua của cơ thể. Liệu người ta có thể hạn chế được quá trình này không? Ngày nay tuổi thọ của con người ngày càng gia tăng, nhưng mỗi người trong số chúng ta đều không muốn nhìn thấy mình ngày một yếu dần năng lực giảm sút và trên mặt bắt đầu xuất hiện những nếp nhăn. Khi già, sức đề kháng của cơ thể yếu đi tạo điều kiện cho việc phá hủy các tế bào trong cơ thể. Để ngăn chặn hữu hiệu quá trình lão hóa, các nhà khoa học đã nghiên cứu và đi tới kết luận, phải thực hiện theo nhiều giai đoạn nhằm đem lại cho cơ thể những chất chống sự oxy hóa, bảo vệ mô liên kết, tăng cường sự khôi phục của tế bào và giảm hiện tượng viêm nhiễm, nhiễm trùng. Chỉ khi nào đáp ứng đầy đủ các yêu cầu trên thì chúng ta mới thực sự có thể bảo đảm được sức trẻ trung lâu dài cho cơ thể. Nhân tố quan trọng có ảnh hưởng lớn tới quá trình này chính là thức ăn: Nên ăn thức ăn chứa nhiều Vitamin C tự nhiên để tăng cường sức đề kháng cho cơ thể. Thức ăn, có nhiều Vitamin E, đây được coi là loại vitamin chống lại tuổi già hữu hiệu nhất, có khả năng chống lại quá trình oxy hóa. Axit béo chứa nhiều trong dầu ăn cũng là một nhân tố quan trọng giúp phục hồi các tế bào của cơ thể. Ăn nhiều rau tươi trái cây để tăng cường sức kháng thể, bảo vệ mô liên kết. Rau cải và trái cây tươi chứa nhiều sinh tố C rất quý vừa chống khuẩn vừa chống mệt mỏi, ngoài ra nó còn chứa nhiều xen lu gô là loại xơ có tác dụng biểu hiện trong việc tống các cặn bã phế thải từ bộ phận tiêu hóa.
Phụ nữ và điều hòa nhiệt độ
Theo một cuộc điều tra của các bác sĩ ở Paris, cứ một trong số 2 nhân viên văn phòng, nhất là phụ nữ trẻ đều phải chịu đựng những ảnh hưởng xấu do điều hòa nhiệt độ gây ra. Triệu chứng thường thấy nhất là chứng bị kim châm ở mũi mắt, cổ họng và bị nhức đầu.
Hãy uống sữa đậu nành
Từ lâu người ta đã biết tác dụng to lớn của sữa đậu nành trong quá trình phát triển của cơ thể, vừa qua một cuộc nghiên cứu tại Mỹ lại cho thấy sữa đậu này còn có thể hạn chế chứng loãng xương và hơn nữa còn giảm được các căn bệnh về tim mạch. Cuộc điều tra mới đây ở Hà Lan cho thấy đàn ông quá gầy thì nguy cơ bị chết sớm lớn gấp 2, 5 lần so với người bình thường, nguyên nhân chủ yếu là các chứng bệnh về động mạch vành.
Cao dán aspirin
Để tránh chứng đau dạ dày do uống Aspisrin, một nhóm bác sĩ Mỹ vừa sáng chế ra một loại cao dán Aspirin được dán trực tiếp vào da và ngấm vào cơ thể qua lỗ chân lông. Cao dán này không hề gây ra phản ứng phụ nữ viên Aspirin bình thường.
Thu Hương – Trí Thức Trẻ – số 17 – tháng 11 – 1996.