Monthly Archives: November 2015

Luận bàn về thiên văn học trong nghệ thuật chiêm tinh – Phần 6

Và điều gì ta có thể vận dụng vào thực tế đời sống mà không phải hoài nghi về tính chuẩn xác của nó? Vấn đề khiến ta liên tưởng đến sự luận lý về câu chuyện “Vua chúa lấy các ngày Nguyệt Ky để đi du ngoạn” ở một đoạn đường nào đó nơi kinh thành không lẽ lại có thể làm tắc nghẽn giao thông cho ngàn vạn con đường trong cả nước hay sao? Chẳng lẽ phong tục tránh xuất hành và ba ngày Nguyệt ky của nhân dân ta lại có xuất xứ từ một lý do không tưởng đó? Đối với một người đã cạn dày kinh nghiệm sông nước từng “Dọc ngang sông rạch”, như bà mẹ anh hùng Trương Thị Mỹ mà nghe những điều lý luận như thế ắt sẽ bảo là nói xạo. Đến đây xin tạm ngưng bàn luận và xin kể một câu chuyện vui triết lý trong lô gich hình thức: Có đạo sĩ nọ cùng học trò tu luyện đã lâu ngày trên núi. Một hôm, thầy dẫn các học trò xuống núi làm một cuộc pic níc du ngoạn vào phố. Thấy các trò không dán mũi tủ kính mà chỉ dán mắt theo những bóng hồng, thầy liền bảo: Cọp đấy! Khi trở về núi thầy hỏi các trò: Hôm nay vào phố các trò thích gì nhất? Các trò đồng thanh trả lời: Bạch thầy, chúng con thích “cọp” nhất ạ! Thế đấy, đánh trào khái niệm bản chất – thuộc tính, thầy chẳng hề lừa được các trò. Câu chuyện trên đáng để ta suy ngẫm.
Lịch Bính Tí (1996) và cách tính chọn ngày lành tháng tốt). Trong phần “trích ngang lịch vạn nên làm mẫu” để biên soạn lịch can chi cho năm Bính Tí – 1996 nhằm hướng dẫn việc tính chọn ngày lành tháng tốt trên cơ sở các yếu tố thiên văn (các nhóm ngày lễ kỵ, sao tốt, sao xấu) được tác giả tính toán liệt kê thành các bảng biểu một cách công phu tỉ mỉ. Thông thường, để giải một bài toán, yêu cầu cần phải có các điều kiện cần và đủ, đối với một bài toán chọn ngày ở đây các điều kiện ấy nổi lên rõ nét ở hai phần chính yếu là vấn đề định tính và định lượng. Nhìn vào các bản tính trong sách lịch ta, sẽ nhận thấy một điều là mỗi ngày trong tháng đều hàm chứa một tập hợp các yếu tố thiên văn cả tốt lẫn xấu xen nhau và sách lịch mới chỉ cho ta biết một số khái niệm còn rất mơ hồ về tinh lý các sao, còn điều chủ yếu là vấn đề định giá tầm lượng ảnh hưởng, mạnh – yếu của mỗi yếu tố cùng sự tương tác giữa chúng sẽ triệt tiêu lẫn nhau ra sao và chung cuộc yếu tố nào (tốt hay xấu) chiếm ưu thế là mục đích cuối cùng của bài toán chọn ngày thì ta chưa có cách gì biết được. Khác với các bài toán số học được giải với những số thực, bài toán thiên văn ở đây được luận giải chủ yếu bằng suy lý, bằng tư duy lo gich với những biến số ảo, nên lẽ tự nhiên dễ hiểu là sẽ có nhiều cách giải và kết quả sẽ cho những lời giải không giống nhau tùy thuộc vào trình độ cao hay thấp của người giải. Ta hãy thử đặt ra cầu hỏi và câu trả lời về một cách giải để đánh giá tính khả dụng của nó: Nếu như trong một ngày luôn có các yếu tố thiên văn cả tốt lẫn xấu cùng tác động thì liệu có thể xét đoán theo sự tương quan về số lượng được chăng? Chẳng hạn như nếu số sao tốt nhiều hơn sao xấu thì đã có kết luận đó là ngày tốt được chưa? Hẳn là chưa, vì số nhiều đâu phải bao giờ cũng áp đảo được số ít, chẳng hạn như ta đã biết rằng chỉ cần có sự hiện diện một ngày ky của chị Hằng thôi cũng đủ khiến cho những Hoàng đạo, Thiên n, Đại Cát, Bất tương…mất đi hiệu lực. Ấy vậy, mà trong sách lịch đã hướng dẫn cách xác định ngày tốt, ngày xấu chỉ bằng phép xem số lượng sao tốt, sao xấu để cân nhắc xét đoán, và ngày trong cách cân đo nưh vậy lại đã bỏ qua đi những yếu tố thiên văn “nặng ký” nhất là nhóm ngày xấu nguyệt kị, thậm chí còn cho rằng đó là ngày tốt nữa.
Hà Vi Tử – Trí Thức Trẻ – số 11 – tháng 15 – 1996.

Luận bàn về thiên văn học trong nghệ thuật chiêm tinh – Phần 5

Bởi thế cho nên cái nóng của mùa hè và cái lạnh của mùa đông thường lấn át sang các mùa khác (ta thường có cảm giác xuân, thu qua nhanh là vì thế). Thực tế như vậy nên khi tính nhuận phải chú trọng đến vấn đề lệch trọng tâm của mùa hè và mùa đông hơn nên khi lấy tháng sáu là tháng nhuận để đẩy ngày Hạ Chí vào trung tâm của mùa hè là hữu lý, còn nếu tính nhuận cho mùa thu thì tháng đầu mùa cũng chỉ là hữu danh vô thực vì vẫn còn cái nóng của mùa hè (ấy là cái thực tế mà có lúc từ cảm nhận ta đã thốt thành lời “thu đến rồi mà sao vẫn còn nóng như mùa hè vậy”). Phân tích hai trường hợp tính nhuận trên đây cũng nhằm đi đến một kết luận quan trọng là không phải cứ tháng âm lịch nào không có ngày khí đều là tháng nhuận. Chỉ có điều là kí tinh lịch, nhuận thường hay là những tháng đó mà thôi. Bởi vậy khi tác giả sách đưa ra nguyên tắc “tháng chỉ có ngày tết không có ngày khí, thì dùng tháng đó là tháng nhuận” là không đúng hoàn toàn. Ở hai thí dụ trên lịch pháp đã lấy nguyên tắc này làm chuẩn mực nên tháng nhuận không đặt vào đúng chỗ cần thiết khiến cho bức tranh thời tiết bị biến dạng đi nhiều. Điều dễ thấy là nếu tháng nhuận chỉ đơn giản vậy thôi thì lịch còn có gì phải tính nữa, việc biên soạn lịch trở nên quá dễ dàng ai cũng có thể làm được và những điều tranh cãi xưa nay về vấn đề tính nhuận cũng sẽ là vô lý. Hy vọng rằng những vấn đề nêu trên được các nhà làm lịch quan tâm khi biên soạn lịch cho thế kỷ 21 cần chú ý hơn đến tính hợp lý của mùa, tiết trong tính thuận.
Ý nghĩa của ngày tết, ngày khi trong âm dương lịch
Theo lịch nhà hạ Trung Hoa phân định một năm có 12 ngày tiết và 12 ngày khí và tháng nào cũng có một tiết và một khí. Tiết do ảnh hưởng của Mặt trăng sinh ra, tiết dụng nên tháng (nguyệt kiến), cách chừng 15 ngày sau khi thì tới khí do ảnh hưởng của mặt trời sinh ra. Vì vậy mới gọi là âm dương lịch và được dùng để nghiên cứu các qui luật về âm dương ngũ hành chi phối 4 mùa trong một năm âm lịch. Mặt trời – Thái Dương sinh “khí” và Mặt trăng (Thái âm) sinh “tiết” tạo ra quy luật âm dương biến dịch. Khi nghiên cứu các qui luật vận động của thiên nhiên ta không thể tách riêng âm lịch với dương lịch vì nếu chỉ theo âm lịch là đã bỏ qua nhân tố khí của mặt trời, còn theo dương lịch thì đã không kể đến tiết của Mặt trăng. Vậy âm dương lịch là lịch chung toàn cầu nên không thể phân biệt ra thành lịch của ta, của tây như cách hiểu của thạc sĩ Trịnh Tiến Điều, có chăng là sự phân biệt đánh giá xem lịch nào tính đúng tính sai mà thôi. Chẳng hạn như ngày Hạ Chí thì mọi vùng trên bắc bán cầu đều phải tính là ngày 21 đến ngày 22 tháng 6 dương lịch, không lẽ ở Việt Nam Hạ Chí không phải là ngày đó? Đúng là nó có những cái khác mà ta cần phải phân biệt rõ: do khác nhau về kinh độ nên giờ tới mỗi vùng của ngày Hạ Chí có sớm muộn khác nhau và do sự khác nhau về vĩ độ nên tính chất của ngày Hạ Chí cũng khác về tầm lượng ảnh hưởng và đó chính là cái chủ yếu để nghiên cứu và tính toán lịch cho từng vùng theo vĩ độ, cụ thể là các vùng thuộc đới nào (nhiệt, hàn hay ôn). Vậy nên các yếu tố thiên văn được nghiên cứu cần phải gắn với tọa độ vùng mới có ý nghĩa, nó cũng không khác gì mấy việc tính toán ảnh hưởng của một con bão theo tọa độ từng vùng mà nó đi qua. Sẽ là sai lầm lớn khi cho rằng lịch Việt Nam khác với lịch Trung – Tây là theo múi giờ. Cho dù có hiểu như vậy, cũng đã thấy sự mâu thuẫn là múi giờ của Việt Nam cùng nằm trên kinh tuyến đi qua cả vùng trung tâm của đại lục Trung Quốc, vậy có gì là khác nhau đâu? Cái giống nhau thì bảo là cái khác nhau, còn cái khác nhau thì bảo là cái khác nhau có ý nghĩa quan trọng bậc nhất trong lĩnh vực nghiên cứu thiên văn để tính lịch là vĩ độ thì lại bỏ qua, vậy không biết lịch tính toán như thế nào.
Hà Vi Tử – Trí Thức Trẻ – số 11 – tháng 15 – 1996.

Luận bàn về thiên văn học trong nghệ thuật chiêm tinh – Phần 4

Nhiều người hẳn còn nhớ vào dịp tết năm Ất Sửu – 1985 dư luận xôn xao bàn tán về chuyện hoa xuân không nở và cho rằng lịch pháp của ta tính sai. Dĩ nhiên đó là sự nhận xét theo cảm tính mà không có lý lẽ chứng minh. Để sáng tỏ vấn đề, trước hết ta cần biết nguyên tắc tính tháng nhuận của các nhà làm lịch: cứ tháng âm lịch nào (tức là chu kỳ trăng nào) mà không có ngày khí thì được xem là tháng nhuận. Đối với các nhà làm lịch thì nguyên tắc này quá ư đơn giản, vậy mà sao còn có chuyện phải tranh cãi về đúng với sai? Mắc mớ chính là ở chỗ trong tính toán không thể áp dụng nguyên tắc một cách máy móc vì nó có thể làm sai lạc đi ý nghĩa của mùa, tiết (dĩ nhiên là khi đã cho rằng “tháng nhuận không phản ánh thời tiết” thì sẽ dễ mắc sai lầm nhất). Ta hãy phân tích vào vấn đề cụ thể nêu trên thì sẽ rõ: Theo lịch pháp của ta thì năm Ất Sửu nhuận được tính cho tháng hai vì tháng này không chứa ngày “khí” nào cả nên đúng với nguyên tắc trên. Thế nhưng lịch Trung Quốc lại lấy tháng 10 (tức tháng một của lịch ta) năm giáp Tí – 1984 là tháng nhuận, và nếu tính xét cũng không sai nguyên tắc! Không sai, vì theo lịch pháp của ta thì tháng một năm giáp Tí có chứa ngày khí. Đồng chí tất sẽ không thể là tháng nhuận được, nếu cứ căn theo nguyên tắc thì điều đó có lý, nhưng nếu phân tích kỹ ta sẽ thấy rằng khí Đông Chí sinh ra quá muộn màng ( vào đúng ngày tuần hối hay còn gọi là ngày Nguyệt tận) nên chỉ tí giờ sau nó đã chuyển vị sang ngày Sóc của tháng sau rồi nên đúng là “có cũng như không” vậy. Đông Chí là ngày trọng tâm của mùa đông năm giáp Tí, còn xuân phân là trọng tâm của mùa xuân năm Ất Sửu, và cả hai mùa đều cùng có tháng nhuận để đẩy ngày khí trọng vào trung tâm của mùa. Quả là một tình thế túng xử đối với các nhà làm lịch, vì nếu tính nhuận cho mùa đông năm giáp Tí thì mùa xuân năm Ất Sửu sẽ bị lệch trọng tâm, và ngược lại. Đúng là nhà làm lịch có quyền nhất bên trọng nhất bên khinh mà không có gì sai với nguyên tắc tính toán thuần túy cả. Đó chính là nguyên nhân dẫn đến tranh cãi và gây ra sự hoang mang nghi ngờ của người dùng lịch như thường đã xảy ra. Bởi thế, nếu ta tìm sự sai đúng về phương diện tính toán thì bên nào cũng có lý đúng không thể bắt bẻ được, cái chính ở đây là ta phân tích về phương diện đón xuân, ăn tết để xem trọng bên nào và khinh bền nào thì hợp lý hơn: Nếu tính nhuận cho mùa xuân năm Ất Sửu thì ngày mồng một tết sẽ sát với ngày đại hàn là ngày khí của tháng chạp thuộc đông năm giáp tí khí âm vẫn còn lấn át khí dương nên hoa đào chưa thể nở quẻ dịch biểu thị cho tháng chạp là quẻ với 4 hào âm và 2 hào dương mà hoa đào chỉ nở trong điều kiện âm dương quân bình với khí dương đã ở thế “thượng phong” đi lên, nghĩa là phải đợi đến tiết lập xuân của tháng giếng biểu thị bằng quẻ Thái với ba hào dương và ba hào âm hoa đào mới nở. Đón tết thì thế, còn đón xuân thì sao? Phải sau ngày Nguyên đán nửa tháng mới tới tiết lập xuân, nghĩa là mùa xuân mới bắt đầu từ đó. Vậy hóa ra là đón tết thì còn ở mùa đông năm giáp Tí và đón xuân thì xuân vẫn xa vời. Trái lại, nếu tính nhuận cho mùa đông năm giáp Tí và đón xuân thì xuân vẫn xa vời. Trái lại, nếu tính nhuận cho mùa đông năm giáp tí thì việc ăn tết vui xuân đều đã vào mùa, hoa đào đã nở và chúa xuân cũng đã có mặt rồi. Vậy nên, nếu lấy ý nghĩa của tế, xuân làm trọng thì cần phải gài tháng nhuận vào mùa đông năm trước. (Năm ấy một số gia đình vẫn ăn tết theo lịch Trung Quốc là hữu lý). Năm Đinh Mão – 1987 cũng có một tình huống tương tự. Lịch ta tính nhuận tháng bảy, còn lịch Trung Quốc tháng sáu, bảy, còn lịch Trung Quốc tháng sáu, nghĩa là lịch ta cho mùa thu có nhuận, còn lịch Trung Quốc – mùa hè. Tính nhuận cho mùa hè là hợp lý vì trong 4 ngày khí trọng tâm của bốn mùa thì Hạ Chí và Đông Chí là hai đỉnh cực nóng và cực lạnh của mùa hè và mùa đông, còn xuân phân và thu phân là hai đỉnh bình quân âm dương của mùa xuân và mùa thu.
Hà Vi Tử – Trí Thức Trẻ – số 11 – tháng 15 – 1996.

Luận bàn về thiên văn học trong nghệ thuật chiêm tinh – Phần 3

Vậy là khi tìm hiểu về một phong tục cổ truyền có liên quan đến thời tiết qua ống kính thiên văn ta còn thấy thêm được những điều hữu ích. Một điều khiến ta không khỏi ngạc nhiên đến sửng sốt là khi nhạc sĩ Trịnh Tiến Điều bảo rằng: “Đến nay vẫn còn có nhiều người lầm tưởng nhuận tháng năm thì nóng” và còn cho rằng “tháng nhuận âm lịch không phản ảnh thời tiết, chỉ ảnh hưởng đến thời gian ăn tết nguyên đán vào trước hay sau tiết lập xuân, mà thôi. Thật lạ, khi mùa hè có thời lượng dài 4 tháng với 4 chu kỳ trăng đi qua, có hai đỉnh nóng là hai tháng năm, hai ngày Đoan Ngọ mà lại chẳng nóng hơn mùa hè hay sao? Có lẽ nhiều người đã cố ý làm bé gái nhầm vì không thể tin được lại có tính cộng một với một vẫn chỉ bằng.. một mà thôi. Nếu ta nhớ lại năm Canh Ngọ – 1990 có nhuận tháng năm nên mùa hè đã nóng như thế nào, và ngày Đoan Ngọ của tháng năm nhuận vì gần ngày Hạ Chí hơn nên cũng nóng hơn ngày Đoan Ngọ của tháng trước rất nhiều. Nếu như ai đó còn chưa tin hoặc muốn kiểm chứng thì có thể chờ tới năm Mậu Dần – 1998 cũng có nhuận tháng năm và tính chất cũng không khác gì mấy so với năm Canh Ngọ. Ta cũng có thể suy ra rằng nếu nhuận rơi vào tháng tư học tháng sáu thì mùa hè bớt nóng hơn nhuận tháng năm. Vậy nên năm nào có nhuận (tức là có 13 chu kỳ trăng) tất thị thời tiết phải khác với năm không nhuận, và nhuận rơi vào mùa nào thì tính chất thời tiết của mùa đó có sự biến đổi rõ rệt nhất như trên đã phân tích. Vậy sao có thể nói rằng tháng nhuận âm lịch không phản ánh thời tiết?. Trong lịch sử đã thường xảy ra những tranh cãi giữa các nhà làm lịch mà chủ yếu là xoay quanh vấn đề tính tháng nhuận và gài nó vào mùa nào, tháng nào là đúng. Lẽ dĩ nhiên là phần đúng thuộc về các bậc tinh thông thiên văn và hiểu thấu đáo ý nghĩa của mùa, tiết. Trong một cuốn lịch thì việc tính nhuận là một vấn đề chính yếu và quan trọng nhất mà nếu tính sai sẽ phản ánh không đúng tính chất thời tiết của các mùa trong năm. Tính nhuận cũng là một bài toán thiên văn thuộc khoa thuật chiêm tinh, nó đòi hỏi phải tính được chính xác các yếu tố thiên văn kết hợp với sự hiểu biết tinh tế về vấn đề mùa, tiết mới có thể giải được đúng tháng nhuận vào mùa nào, tháng nào trong năm. Muốn biết việc tính nhuận của một cuốn lịch đúng hay sai trước khi sử dụng nó ta cần phải biết về nguyên lý và nguyên tắc tính nhuận nên thấy cần đưa ra một trường hợp cụ thể phân tích làm mẫu để mọi người có thể rút ra những kết luận cần thiết khi dùng lịch.
Hà Vi Tử – Trí Thức Trẻ – số 11 – tháng 15 – 1996.

Luận bàn về thiên văn học trong nghệ thuật chiêm tinh – Phần 2

Bởi vậy, chiêm tinh học khoa học không phải chỉ căn cứ vào các bảng biểu tính sẵn trong sách lịch sử như chiêm tinh học phổ thông mà phải luôn bám sát các hiện tượng thiên văn bất thường, vận dụng phương pháp phân tích lô gích bằng các phép qui nạp và diễn dịch để xét định thì mới có lời giải đạt độ tin cậy cao. Vấn đề thiên văn học cần bàn đến ở đây không cho phép đi sâu vào lĩnh vực phức tạp và cao vời đó của khoa học chiêm tinh mà chỉ giới hạn sự tìm hiểu về những qui luật cơ bản của tự nhiên trong phạm vi bộ tam tinh là mặt trời – trái đất – mặt trăng để nhận biết được rõ hơn về mối quan hệ tương tác giữa chúng ở mỗi vị trí tương đối đã gây ra những biến đổi như thế nào, ý nghĩa là tốt hay xấu để biết cách ứng xử sao cho phù hợp với nhịp điệu vô hình của thiên nhiên đã trở thành quy luật ấy. Chính vì lẽ đó nên cần có sự phân tích thấu đáo hơn những vấn đề thuộc lĩnh vực Thiên văn học được nêu ra trong sách, ngõ hầu thấy được đâu là điều “khả chấp và đâu là bất khả chấp”.
Thiên văn học với quy luật của 4 mùa.
Khi con người phải đối mặt với những hiện tượng bí ẩn của thiên nhiên gây ra tai họa, thì dù là thời xưa hay thời nay, phương Đông hay phương Tây cũng thường có cách giống nhau là gán cho một hình tượng nào đó khả dĩ cảnh báo cho mọi người về mối nguy hiểm chẳng hạn như ở vùng biển nằm giữa Miami – Puerto Rico – Bermuda từng nổi tiếng thế giới từ nửa thế kỷ qua vì đã nhấn chìm biết bao tàu thuyền và cả máy bay mà không để lại một chút dấu vết nào đã được mệnh danh là khu “tam giác quỷ” hay “vịnh ác quỉ”. Bởi thế cho nên khi muốn hiểu về một ngày như ngày tết Đoan Ngọ đã được mệnh danh là ngày có sâu bọ cần giết thì điều trước tiên ta phải nhìn nhận đó là một ngày xấu rồi mới có thể khám phá ra nguyên nhân bản chất của hiện tượng cùng sự ảnh hưởng của nó đế sự sống. Trái lại, nếu chỉ nhìn thoáng qua ở hình thức ăn tết lại tưởng rằng đó là ngày đẹp nhất cả năm nên mới có sự uống rượu vào giữa lúc cái nóng đang ở điểm đỉnh của mùa hè thôi cũng đã đủ kích động thần kinh tới trạng thái khủng hoảng vì nhiệt gia nhiệt tắc cuồng theo như nguyên tắc của y lý. (Cũng cần nói thêm là vào ngày tết Đoan Ngọ nhân dân thường chọn các món ăn có tính hàn để trung hòa các món ăn có tính khí như thường thấy là món bún sáo vịt, tiết canh vịt… mà ngày nay nhiều người vẫn ưa thích).
Hà Vi Tử – Trí Thức Trẻ – số 11 – tháng 15 – 1996.

Luận bàn về thiên văn học trong nghệ thuật chiêm tinh – Phần 1

Chiêm tinh học khoa học và chiêm tinh học phổ thông luận xét về ngày tốt, ngày xấu dựa vào những yếu tố thiên văn nào?
Trong phần đầu tập sách “Bàn về lịch vạn niên” tác giả có đặt ra một vấn đề cần xem xét là có ngày tốt, ngày xấu hay không?. Y nhiên là có mới cần phải bàn, còn như không thì bàn đến làm chi? Không phải cần viện dẫn ra những thuyết lý, định luật thuộc lĩnh vực khoa học thâm diệu như dịch lý, Thiên văn, Chiêm tinh… lại chỉ để bàn về những điều không có thực hay sao? Bởi còn bán tín bán nghi như thế nên tránh sao khỏi có những lấn cấn trong luận lý dẫn tới sự kiện giải vấn đề không được thông thoát. Sách đưa ra luận bàn nhiều vấn đề rộng lớn thuộc lĩnh vực khoa học huyền bí như vậy nhưng tựu trung vẫn là nhằm vào mục đích tối thượng, một vấn đề nóng hổi có ý nghĩa thực dụng trong đời sống thường nhật đang được sự chú tâm của nhiều người: Cách tính chọn ngày lành tháng tốt như thế nào cho đúng, vận dụng như thế nào cho hay, quyền biến như thế nào cho hợp lý. Hẳn ai cũng biết chọn ngày lành tháng tốt là xác định thời gian tốt nhất để tiến hành công việc mà ở không ít trường hợp là nhân tố có ý nghĩa quyết định đến sự thành bại. Điểm thời gian tối hậu đó trong kinh dịch được thâu tóm trong một chữ thì. Mục đích thì đơn giản, nhưng để đạt được mục đích lại là cả một vấn đề phức tạp bởi lẽ trước hết nó lệ thuộc vào các quy luật vận động của tự nhiên. Đó chính là các yếu tố thiên văn được chuyển hóa thành các dữ kiện để phân tích xét đoán trong các bài toán của khoa thuật chiêm tinh. Phải nói rằng không có sách lịch nào, kể cả sách đồ sộ và nổi tiếng như Lịch vạn niên lại có thể cung cấp được đầy đủ các dữ kiện thiên văn cho các bài toán trong thuật chiêm tinh. Điều này cũng dễ hiểu vì sách lịch không thể tính trước được các yếu tố thiên văn phát sinh từ những hiện tượng thiên văn xuất hiện của sao chổi, sự biến đổi trạng thái vật lý của các hình tinh ví dụ như vụ bắn phá khủng khiếp gần đây nhất năm 1995 của sao chổi vào Mọc Tinh với một tốc độ cực lớn lên tới 60 km trên giây tạo thành lỗ thủng lớn tới mức có thể đút lọt cả trái đất, đã gây ra những biến đổi lớn lao tác động đến bề mặt địa cầu. Cần nói thêm rằng, trong số các sao có tầm cỡ của khoa thuật chiêm tinh được sắp xếp diễn đạt trên biểu số tử vi thì Mộc tinh có tên gọi là sao Thái tuế cùng với 1 sao vệ tinh nhỏ khác hợp thành vòng Thái uế chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng và là một trong những nhóm phi tính năng động nhất luôn có mặt tham gia vào các bài toán luận giải của các nhà khoa học chiêm tinh với tầm ảnh hưởng rất mạnh…
Hà Vi Tử – Trí Thức Trẻ – số 11 – tháng 15 – 1996.

Bỏ chồng để sống với một… phụ nữ! – Phần 3

Nhưng liệu Nathlie có cùng một ý định như tôi không? Luôn luôn bị dằn vặt, tôi tìm cách gây ra một cuộc tranh cãi. Tôi thật sung sướng khi cô ta nói rằng tôi là người đàn bà lý tưởng của cuộc đời cô! Sự thành thật và sự thông hiểu của cô tiếp cho tôi sự can đảm để đương đầu với những gì sẽ đến.
Một cặp thực thụ
Thỉnh thoảng con bé của tôi không bằng lòng với Nathlie vì nó muốn dành tôi cho riêng nó. Cuối cùng là chuyện chồng tôi, tuy rất khó chịu phải chấp nhận chia tay. Đe dọa, cấm đoán con cái tiếp xúc, gặp tôi, không tôn trọng quyền của tôi được đến thăm nom con cái… Với thời gian, anh ấy đã bình tâm và bây giờ thường dẫn con đến gặp tôi, ngày cuối tuần, nhưng không vào nhà, không nói năng gì. Tôi không có cảm giác gì với anh ta, không hằn thù, không thương hại. Anh ta thuộc về một giai đoạn đã kết thúc không tốt đẹp của đời tôi. Ngược lại, chuyện tình của tôi với Nathlie luôn luôn tươi đẹp. Đã 6 năm rồi, chúng tôi cùng sống chung một niềm hạnh phúc. Chúng tôi đã là một cặp thật sự, cái gì cũng chia sẻ với nhau. Nhìn lại quá khứ, tôi không luyến tiếc cái gì. Tôi ý thức được cái gì tôi phải trả để sống với Nathlie: không chăm sóc được hai con lớn và chấp nhận không có sự thông cảm của người khác. Số đông bạn bè quay lưng lại với tôi, nhưng những người bạn thực sự vẫn bên cạnh tôi. Khi chúng tôi ôm nhau ở đường phố, những người qua lại nhìn một cách nặng nề, nhưng cái đố không gây khó chịu cho tôi. Chúng tôi không che giấu và thử sống với nhau một các tự nhiên. Tôi chỉ là một phụ nữ yêu một phụ nữ. Với Nathlie, tôi tìm thấy sự tương đồng, sự dịu dàng. Tôi yêu sự kiên nhẫn, sự hồn nhiên và sự nhạy cảm của cô ta. Cô ấy cho tôi tất cả mà không ngăn cản tôi tồn tại. Bên cạnh cô, tôi mới chính là tôi, và tôi không thể sống nếu không có cô. Nathlie đã tìm thấy cân bằng trong sự vững bền. Tôi muốn sống đến già với cô ấy. Đó là ước vọng duy nhất của tôi.
Đăng Doanh – Trí Thức Trẻ – số 12 – tháng 6 – 1996.

Bỏ chồng để sống với một… phụ nữ! – Phần 2

Cho đến nụ hôn đầu tiên. Không thô lỗ, Nathlie đã kéo được tôi về phía cô ta và tôi đã không phản ứng lại sự đi trước đó. Gợi hứng thú bởi con người đó, tôi dần dần muốn tìm hiểu thế giới cấm ky. Điều gì sẽ đến? Chắc có lẽ cũng như lần đầu, người ta làm tình với con trai, có sự hiểu biết chút ít nhưng không hiểu cái gì sẽ tiếp diễn. Và đó cũng là thí nghiệm đầu tiên của tôi với một phụ nữ… Hơn là một sự thay đổi, nó giống như một sự chuyển dịch, một sự cải đổi tôi trở thành một con người khác, Nathlie biểu hiện cho những gì mà tôi vẫn tìm kiếm một sự xuất hiện, một cái vai…
Bỏ lại cuộc đời đằng sau mình còn lâu mới dễ dàng
Bước đi đã qua, chúng tôi tiếp tục bí mật gặp nhau. Tôi không hề biết chồng tôi đã đặt máy nghe trộm trong nhà và đã nghe rõ cả những lời thủ thỉ của chúng tôi. Không nói năng gì, anh ta tiếp tục đón tiếp Nathlie ở nhà tôi. Tôi đã đeo đuổi hai cuộc sống như vậy và tự nhủ có một ngày nào đó phải quyết định dứt khoát. Đêm ngày 2 tháng 1 năm 1990, chồng tôi và tôi cãi nhau kịch liệt. Anh ta đã đẩy tôi tới chỗ phẫn nộ tột bậc, nhắc lại những câu chuyện riêng giữa tôi và Nathlie. Tôi đã hiểu rằng anh đã nắm được mọi chuyện. Với những gì đã diễn ra tôi cũng đã tưởng tượng được rằng một ngày nào đó không còn xa nữa, sự chia tay giữa tôi và gia đình tôi không còn là xa hay là trong suy nghĩ của tôi. Ngày mai, tôi khóc với Nathlie và báo là tôi sẽ ra đi. Cô ta sẵn sàng đi cùng tôi. Tôi để lại một bức thư cho chồng và các con khi đó là 14, 10 và 8 tuổi. Với một bà mẹ, đó là một quyết định không dễ dàng gì… Và rồi tôi đã để lại tất cả đằng sau: việc làm, bè bạn, Savoie vùng mà tôi mến yêu biết mấy. Nhưng nhu cầu lập lại cuộc đời trong tình yêu và sự thành thật mạnh hơn tất cả. Tôi cũng biết rằng làm như vậy có điều rủi ro là tôi không chăm sóc được con cái. Mặc dù vậy, tôi rất tự tin và tự nhủ rằng, một khi đã ổn định chỗ ở, tôi sẽ tìm cách đưa chúng đến chỗ chúng tôi. Trong những lúc khó khăn đó, Nathlie luôn luôn tìm cách làm cho tôi yên tâm và lạc quan. Tuần đầu, chúng tôi đến tạm ở nhà mẹ cô. Giở bản đồ nước Pháp, chúng tôi cùng nhau quyết định đến Midi miền Nam nước Pháp. Những sự khởi đầu không phải màu hồng. Phải sống ở khách sạn, tìm việc làm… Tôi vẫn còn ngờ vực: liệu chuyện của chúng tôi có lâu dài không, liệu tôi có chịu đựng được cái nhìn của những người khác, làm sao kể lại sự thật cho con cái, họ hàng thân thích của tôi?
Cùng lúc đó, tôi tự cảm thấy có cái gì bấp bênh tôi cần xây dựng cái gì thật vững chắc.
Đăng Doanh – Trí Thức Trẻ – số 12 – tháng 6 – 1996.

Bỏ chồng để sống với một… phụ nữ! – Phần 1

Đã có chồng và là mẹ của hai ba đứa con, Ginette không bao giờ hình dung một ngày nào đó mình sẽ yêu một người đàn bà. Thế mà, sự thật đã xảy ra khi chị gặp Nathlie, năm 1989. “Đã 6 năm nay, tôi sống với Nathlie, người đàn bà của đời tôi. Cuộc gặp gỡ đã làm thay đổi cuộc đời tôi. Vì tình yêu với nàng, tôi đã rời bỏ tất cả một cách bất ngờ: từ bỏ chồng, để lại con cái và đã đi hàng trăm ki lô mét để xây cuộc đời mới”. Ginette đã tâm sự như vậy, và đã tự thật nguyên nhận và diễn biến của sự thay đổi đổi đột ngột đó: Trước đây, trong nhiều năm, tôi có sự nhận định rạch ròi, quả quyết rằng, đồng tính luyến ái như một căn bệnh, một sự lựa chọn không có rõ ràng về cuộc sống. Tôi đã chứng giải chắc hẳn có một sự thiếu thốn hoặc hẫng hụt đối với những người đàn ông và đàn bà sống đồng tình luyến ái, cùng với mình. Nhưng câu chuyện của tôi với Nathalie trả lời rằng tôi đã nhầm!. Trước khi gặp cô ta, tôi sống với chồng và ba con ở Savoie, một miền rất đẹp ở Đông Nam nước Pháp. Cuộc sống vợ chồng không bù đắp đủ cho tôi nhưng tôi vẫn sống êm ả. Lúc 16 tuổi, tôi gặp chồng tôi. Một năm sau, chúng tôi lấy nhau. Ban đầu, tôi không có thắc mắc gì, tôi nghĩ là chúng tôi chung sống với nhau như mọi cặp vợ chồng khác. Năm tháng trôi qua, tôi mới nhận ra rằng chúng tôi hợp nhau quá ít. Chúng tôi không có những niềm vui và sở thích giống nhau. Tình tình của chúng tôi quá khác biệt và không hòa nhịp với nhau. Chỉ có một điều duy nhất gắn bó chúng tôi, đó là con cái.
Nathlie đã thâm nhập cuộc đời tôi một cách tình cờ
Tôi biết Nathlie một buổi chiều tại nhà chị cùng làm việc với tôi. Không hề nghĩ đến tình duyên gì, tôi đã làm thân với cô ta. Làm sao tôi có thể tính đến cái gì, khi cô ta mới 24 tuổi, trẻ hơn tôi 34 tuổi, và hơn nữa, lại là một người đàn bà. Mặc dù tính cách cô ta không rõ ràng, và có mặt lưỡng tính làm tôi bối rối. Và có lẽ thu hút tôi một cách vô thức. Tôi nhận ra ngay là cô ta yêu đàn bà, nhưng trong đầu óc tôi hoàn toàn nghĩ rằng không thể nào chấp nhận đu đưa với một kiểu sống như vậy. Trong vòng ba tháng, chúng tôi thường gặp nhau luôn, cô ta đến nhà tôi, gặp ở ngoài phố, cố ta có vẻ ăn ý, hợp với con cái tôi.
Giữa chúng tôi, mọi việc diễn ra êm dịu
Trong thời gian đó, cái gì cũng diễn ra êm dịu, với những cái nhìn âu yếm, với bàn tay của cô đặt lên vai tôi.
Đăng Doanh – Trí Thức Trẻ – số 12 – tháng 6 – 1996.

Sợ còi

Sau gần một năm tập thể dục, thể hình, em chỉ cao thêm được có 1 phân. Nghe nói tập tạ sẽ làm người ta lùn đi, em bỏ hẳn, đã ba tháng. Tuy vậy vẫn chẳng thấy cao hơn chút nào. Vì sao vậy? (Em hiện 18 tuổi, coa 1 mét 64). Trần Xuân Đức – Thành phố Vinh – Nghệ An.
Trả lời: Năm nay em 18 tuổi, cao 1 mét 64 như vậy sự phát triển cơ thể của em bình thường. Từ khi em tập thể dục dụng cụ cơ bắp phát triển to ra, như vậy là sự phát triển thể lực của em tốt. Một năm sau em đo lại chiều cao thấy thêm được 1 phân. Như vậy em đừng bận tâm lo lắng, vì chiều cao của em còn có thể tiếp tục phát triển cho tới năm em 25 tuổi. Em tập gánh tạ ba tháng sau ngừng không tập nữa và đo chiều cao không thấy tăng thêm nên em lo lắng? Em yên tâm vì sau ba tháng đo chiều cao ở những người phát triển bình thường chưa thể có sự thay đổi được. Nếu sau ba tháng em đo chiều cao của em thấy tăng vài phân mới là điều bất bình thường đáng ngại. Em hoàn toàn yên tâm về sự phát triển cơ thể của em.
Bệnh xương?
4 năm trước, tự nhiên cháu bị sưng và đau đầu gối, chân phải. Sau vài ba ngày, dù không uống thuốc, tất cả đều qua đi. Những lần sau, có khi uống thuốc, có khi không. Gần đây, dấu hiệu tương tự lại xuất hiện ở cả hai khớp vai. Như vậy có phải cháu đã mắc bệnh xương? Trần Quang Trung – Nhị Chiểu, Kim Môn – Hải Hưng.
Trả lời: Cháu tự nhiên bị sưng đau ở khớp gối sau khỏi. Một tháng sau cháu lại bị sưng đau ở các khớp khác như khớp vai, khớp khuỷu, kèm theo thấy người mệt mỏi, sốt. Cháu tự dùng thuốc Presnisolon để điều trị thì thấy đỡ. Nhưng sau một thời gian cháu lại bị sưng đau các khớp khác. Như vậy cháu đã mắc phải một bệnh về khớp rất là phổ biến ở tuổi thanh thiếu niên. Đó là bệnh thấp khớp cấp. Cháu cần phải đến bệnh viện để làm thêm một số xét nghiệm giúp cho chuẩn đoán chính xác. Sau đó các bác sĩ sẽ điều trị tích cực cho cháu. Khi ta viện các bác sĩ sẽ có đơn thuốc chỉ dẫn điều trị phòng thấp lâu dài cho cháu. Cháu không nên tự mua thuốc Presnisolon để điều trị tại nhà. Vì Presnisolon là thuốc điều trị thấp khớp cấp với điều kiện: sử dụng đúng liều lượng, thời gian. Nếu tự điều trị bằng loại thuốc này không đúng liều lượng, thời gian thì sẽ không có kết quả.
BS Phạm Xuân Thịnh – Trí Thức Trẻ – số 12 – tháng 6 – 1996.